Con người và vai trò của giáo dục

Con người và vai trò của giáo dục

Mạnh Tử nói: “Nhân chi sơ tính bổn thiện, tính tương cận tập tương viễn”, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ lương thiện, tính tình khá đồng nhất, nhưng do môi trường và sự tiếp cận học hỏi khác nhau mà tính tình đâm ra khác biệt nhau.

Tuân Tử nói: “Nhân chi sơ tính bổn ác, lý tính hậu lai tập đắc”, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ là ác, nhưng sau này do học tập mà có lý trí, biết cái đúng cái sai.
Mạnh Tử và Tuân Tử đều là bậc thầy của Nho giáo thời Chiến quốc, dù có những đánh giá khác nhau về tính con người nhưng đều thống nhất rằng môi trường và sự giáo dục sẽ làm con người thay đổi, nghĩa là giáo dục đóng vai trò quyết định cho bản tính của con người trong tương lai.
Thật ra, đánh giá khác nhau về bản chất con người của hai ông không có gì mâu thuẫn. Tuân Tử nhìn theo hướng tiến hóa của vạn vật, cho rằng con người là một loài động vật trong thế giới sinh học nên theo nguồn gốc ban đầu vốn dữ tính, muốn thành người có lý trí thì phải được giáo dục.
Mạnh Tử nhìn con người từ khía cạnh xã hội học, cho rằng con người được sinh ra trong cộng đồng, có tình thương của cha mẹ, anh em, bè bạn nên bản tính ban đầu lương thiện, nhưng khi tiếp xúc, học tập trong các điều kiện xã hội khác nhau thì tính tình ắt sẽ khác nhau. Từ đó có thể thấy từ xưa đến nay, mọi thế hệ nhân loại đều khẳng định vai trò vô cùng to lớn của giáo dục đối với con người.
Mục tiêu của giáo dục
Mục tiêu của giáo dục thật sự rất rõ ràng là dạy làm người, nghĩa là rèn luyện đạo đức và nhân cách con người. Giáo dục đồng thời cung cấp kiến thức, kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc, văn minh. Nền giáo dục của nước ta cũng phải tìm ra các biện pháp để đạt được hai mục tiêu trên.
Nước ta có lịch sử lâu đời, đạo đức con người Việt Nam không những được hình thành từ sự đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên, tạo nên sức mạnh cộng đồng thương yêu bảo vệ nhau, mà còn tiếp thu được nhiều nguồn tư tưởng và đạo đức của loài người, trong đó Phật giáo dạy lòng từ bi, vị tha, yêu thương mọi sinh linh…; Nho giáo dạy cách xử lý mối quan hệ giữa người với người, với cha mẹ (chữ hiếu), với cộng đồng quốc gia (chữ trung) và các mối quan hệ với người chung quanh khác, hình thành nên hệ thống đạo đức “lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nhân, trí, tín, dũng”…; Thiên Chúa giáo và đạo Tin Lành dạy lòng bác ái, yêu tự do…; tư tưởng của Karl Marx dạy sự bình đẳng, yêu thương bênh vực người cô thế, đứng về phía quyền lợi người nghèo khó…
Các luồng tư tưởng và đạo đức của loài người quy tụ đến Việt Nam trên 2.000 năm qua đã được con người Việt Nam tiếp thu và chọn lọc, hình thành nên đạo đức tư tưởng văn hóa Việt Nam. Chính nền tảng văn hóa này là nguồn sức mạnh vô biên cho con người Việt Nam.
Trở lại thực trạng xã hội chúng ta. Sau ngày đất nước thống nhất, người Việt Nam ta thật sự làm chủ đất nước, hoàn toàn có quyền thiết kế một thể chế xã hội phù hợp với văn hóa, đạo đức, con người Việt Nam. Hơn 30 năm qua, tuy đã có tiến bộ về mặt xóa đói giảm nghèo, đời sống chung của người dân có được nâng cao, nhưng thành quả đó vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng của đất nước.
Nếu so sánh với các nước xung quanh thì khoảng cách vẫn còn lớn. Điều đau lòng hơn là đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội ngày càng có nhiều biểu hiện suy đồi, người lớn phải hổ thẹn với trẻ em, cấp trên phải hổ thẹn với cấp dưới khi nói về đạo đức. Nguy hại hơn, đáng phẫn nộ hơn là những kẻ đạo đức giả không hề ngại ngùng đứng bên trên giảng giải đạo đức cho người khác, những kẻ phạm pháp nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật... Đây mới chính là nguyên nhân trực tiếp nhất làm cho nền giáo dục của ta không thể đổi mới được.
Khi đạo đức con người, đạo đức xã hội bị suy đồi thì mọi cố gắng nỗ lực cho đầu tư phát triển kinh tế sẽ khó đạt được hiệu quả cao. Bộ máy công quyền dễ bị tê liệt và thậm chí bị lợi dụng làm nơi trú ẩn, làm công cụ cho những kẻ vô đạo đức trục lợi (các vụ tham nhũng, hối lộ, ăn chặn tiền cứu trợ dân nghèo là những biểu hiện rõ nhất). Đương nhiên, ngành giáo dục không đủ khả năng giải quyết thảm họa này, bởi đó không chỉ là trách nhiệm của riêng ngành giáo dục. Giáo dục hiện nay chỉ cố gắng ngăn chặn thế hệ tiếp theo không ngộ nhận, không xem cái bất cập là mô hình phải noi theo. Nếu làm được như thế đã là “công đức vô lượng” đối với đất nước.
Đạo đức nói chung là chuẩn mực hành vi của con người, trong đó đa số xuất phát từ lợi ích trực tiếp của cá nhân và đối tượng có quan hệ hay cộng đồng. Ví dụ phải hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng thầy cô vì cha mẹ sinh ra và nuôi nấng ta, thầy cô dạy dỗ ta nên người, hoặc phải tận trung với nước, vì nước mất thì nhà tan… Dạng này tạm gọi là đạo đức riêng, thể hiện tư cách đạo đức cá nhân. Dạng đạo đức thứ hai không trực tiếp đem lợi gì ngay cho cá nhân, nhưng nếu cá nhân không có thì sẽ làm cho cộng đồng xấu đi nên tạm gọi là công đức tâm.
Người có công đức tâm thể hiện như sau: Đi đường nếu thấy một vật chướng ngại như tảng đá, hố sâu ngang đường có thể nguy hại cho người đi sau thì tự động dẹp đi hay làm một điều gì đó để người sau chú ý; thấy vòi nước chảy lãng phí thì khóa lại; để xe đúng chỗ không làm cản trở sự lưu thông trên đường… Những hành vi đó diễn ra một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi trách nhiệm, không mưu cầu lợi ích cho riêng mình. Nó hoàn toàn khác với hành vi của những người có lợi ích, có trách nhiệm, nhưng không chịu thực hiện nghĩa vụ. Người có công đức tâm luôn là người có nhân cách và đạo đức tốt.
Đối với mục tiêu giáo dục con người có ích cho xã hội, công đức tâm là dạng đạo đức không thể thiếu trong nội dung giáo dục, nó được lồng ghép trong kỷ luật học đường, trong sinh hoạt nhà trường, trong những bài giáo dục công dân và trong mọi nội dung sách giáo khoa. Khi thế hệ mới được đánh thức trở lại đạo đức này thì sự đùm bọc và thương yêu nhau sẽ làm cho trật tự xã hội được cải thiện, vốn xã hội sẽ được hồi phục, việc phát triển kinh tế ắt sẽ có những tiến bộ vượt bậc, đời sống ắt sẽ được nâng cao hơn, sức mạnh của đất nước, của con người Việt Nam sẽ to lớn hơn.
Giáo dục kiến thức và kỹ năng
Hệ thống giáo dục của nước ta trong thời gian qua nặng về giáo dục lý thuyết, trong đó phần lý thuyết cũng đặt nặng về giáo dục chính trị và nhẹ về thực hành. Tỷ lệ trường dạy kỹ thuật, dạy nghề so với giáo dục phổ thông là thấp một cách bất thường so với yêu cầu của nền kinh tế. Đây là lý do tại sao lao động có kỹ thuật, có kỷ luật trong lực lượng công nhân không đủ hoặc không đạt yêu cầu.
Hệ đại học tuy trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn yếu kém so với yêu cầu. Nội dung và phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới. Sinh viên học một cách thụ động, do đó khi ra trường khó kiếm công ăn việc làm, phải dựa vào mối quan hệ thân quen hay vào một khả năng khác để có một việc làm, sau đó từng bước tự đào tạo hay tự thích nghi với yêu cầu của công việc.
Ngoài ra, việc đào tạo cấp đại học còn có những hiện tượng bất cập khác: dù số giảng viên, giáo sư không đủ cho các trường chính quy nhưng trường đại học hay lớp đào tạo đại học dạng tại chức, chuyên tu thuộc các ngành kinh tế, xã hội lại vẫn được mở ra khắp nơi; các trường kỹ thuật, trường nghề lại không được phát triển. Hệ quả là chất lượng đào tạo ngày càng kém hơn.
Từ thực trạng giáo dục đó, có những bất cập sau đây cần phải xử lý ngay:
- Cơ cấu, tỷ lệ phân bổ giữa hệ phổ thông trung học với hệ trung học kỹ thuật và dạy nghề phải cân đối hơn, thỏa mãn cho được nhu cầu lao động cho phát triển kinh tế. Các loại hình đào tạo đều có thể liên thông nhau để mọi học viên đều có cơ hội học lên cao về sau.
- Hệ đại học, cao đẳng phải có được quy chế tự chủ rộng rãi hơn, được chủ động trong nội dung chương trình, chọn phương pháp giảng dạy phù hợp. Nhà trường được chủ động về thu nhận học viên, chọn lựa giảng viên, cấp bằng tốt nghiệp và tự chủ về tài chính.
Bộ Giáo dục và Đào tạo nên cho phép Việt kiều, doanh nhân nước ngoài đang đầu tư tại Việt Nam hay các trường nước ngoài mở trường học. Như thế mới có thể nhanh chóng hội tụ thêm những kinh nghiệm cụ thể.
Phương pháp giáo dục mới phải giúp và buộc học sinh sử dụng tốt công cụ thông tin trên mạng để bổ sung kiến thức còn thiếu. Mục tiêu và phương pháp giảng dạy cũng phải thay đổi. Chúng ta xem quá trình dạy và học thông qua ba tầng tiếp thu của học sinh như sau:
- Nếu chỉ dừng ở tầng 1 - tiếp nhận thông tin. Khi ấy thầy giảng, trò nghe và ghi nhớ. Trò cần học thuộc với hy vọng sử dụng kiến thức đó để kiếm sống. Điều này ngày xưa thì được, nhưng nay có thể không được, nếu chẳng may điều thầy dạy không còn đúng với thực tế nữa.
- Tầng 2 diễn ra khi đã có sự trao đổi thông tin và tạo thông tin mới, tức là thầy và trò có sự trao đổi trong quá trình dạy và học nhằm bám sát thực trạng xã hội, giúp trò sau này dễ dàng vận dụng được những điều đã học vào những môi trường thực tế hết sức đa dạng.
- Tầng 3 là rèn luyện cách tiếp cận, hình thành phương pháp tư duy sáng tạo. Trong quá trình giảng bài với những bài học khác nhau, người thầy phải chọn những nội dung để kết cấu thành hệ thống bài giảng nhằm từng bước hình thành một phương pháp tư duy, tạo nên kỹ năng sáng tạo cho trò. Kết quả là trò sẽ có phương pháp tiếp cận thực tế độc đáo và hiệu quả, có kỹ năng giải quyết vấn đề ở tầm tư duy ngang bằng thời đại.
Như vậy, điều hết sức quan trọng mà thầy cần rèn cho trò tại trường là phương pháp tiếp cận thông tin, quan sát và nhận dạng vấn đề, hình thành nhận thức mới đúng đắn và ngang bằng với trình độ chung của học sinh cùng bậc ít nhất là của các nước tiên tiến trong khu vực.
Theo PHAN CHÁNH DƯỠNG
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
Đọc tiếp >>
Quảng cáo
Facebook Fan
[Sinh 11] Bài 4: Vai trò của các nguyên tố khoáng

[Sinh 11] Bài 4: Vai trò của các nguyên tố khoáng

Trong cơ thể thực vật chứa nhiều nguyên tố khoáng có trong bảng tuần hoàn. Tuy nhiên chỉ có 17 nguyên tố C, H, O, N, P, K, S, C, Mg, Fe, Mn, B, Cl, Zn, Cu, mO, Ni là những nguyên tố khoảng thiết yếu đối với sự sinh trưởng của mọi loài cây.
Bài 4: VAI TRÒ CỦA CÁC NGUYÊN TỐ KHOÁNG
Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
I. NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG KHÓNG THIẾU YẾU TRONG CÂY.- Nguyên tố dinh dưỡng khoáng thiết yếu là :
+ Nguyên tố mà thiếu nó cây không hoàn thành được chu trình sống.
+ Không thể thay thế được bởi bất kì nguyên tố nào khác.
+ Phải trực tiếp tham gia vào quá trình chuyển hóa vật chất trong cơ thể.
- Các nguyên tố dinh dưỡng khoáng thiết yếu gồm :
+ Nguyên tố đại lượng : C, H, O, N, P, K, S, Ca, Mg.
+ Nguyên tố vi lượng : Fe, Mn, B, Cl, Zn, Cu, Mo, Ni.

II. 
VAI TRÒ CỦA CÁC NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG KHOÁNG THIẾT YẾU TRONG CÂY.
- Tham gia cấu tạo chất sống.
- Điều tiết quá trình trao đổi chất, các hoạt động sinh lý trong cây:
+ Thay đổi đặc tính lý hóa của keo nguyên sinh chất.
+ Hoạt hóa enzim, làm tăng hoạt động trao đổi chất.
+ Điều chỉnh quá trình sinh trưởng của cây.
- Tăng tính chống chịu của cây trồng

III. NGUỒN CUNG CẤP CÁC NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG KHOÁNG CHO CÂY
 
1. Đất là nguồn cung cấp chủ yếu các chất khoáng cho cây.
 
Trong đất các nguyên tố khoáng tồn tại ở 2 dạng: Hòa tan và không hòa tan
- Cây chỉ hấp thụ các muối khoáng ở dạng hòa tan.
2. Phân bón cho cây trồng.
 
- Bón không hợp lí với liều lượng cao quá mức cần thiết sẽ:
+ Gây độc cho cây.
+ Ô nhiễm nông sản.
+ Ô nhiễm môi trường đất, nước…
- Tùy thuộc vào loại phân, giống cây trồng để bón liều lượng cho phù hợp.
Một sô câu hỏi : 
1. Vì sao cần phải bón phân với liều lượng hợp lí tùy thuộc vào loại đất, loại phân bón, giống và loại cây trồng?
Trả lời : 
-  Phân bón là nguồn quan trọng cung cấp các dinh dưỡng cho cây trồng.
- Liều lượng phân bón cao quá mức cần thiết sẽ không chỉ độc hại đối với cây mà còn gây ô nhiễm môi trường. ví dụ, nếu lượng Mo trong mô thực vật đạt 20 mg/1kg chất khô hay cao hơn, dộng vật ăn rau tươi sẽ bị ngộ độc Mo và ở người xuất hiện bệnh Gút. Dư lượng phân bón khoáng chất sẽ làm xấu lí tính cấu trúc của đất, giết chết các vi sinh vật có lợi và bị rửa trôi xuống ao hồ sông suối gây ô nhiễm nguồn nước.
 Do vậy cần bón phân hợp lí ( đúng lúc, đúng lượng, đúng cách, đúng loại )để cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, hiệu quả của phân bón cao mà lại giảm được chi phí, không gây ô nhiễm.
2. Hãy liên hệ thực tế, nêu một số biện pháp giúp chuyển hóa các loại muối khoảng không tan thành các dạng họa tan dễ hấp thụ đối với cây? 
Trả lời : Rễ cây chỉ hấp thụ muối khoáng dạng hòa tan. Sự chuyển hóa các chất khoáng dạng không tan thành các dạng cây hấp thụ được chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi trường như hàm lượng nước, độ thoáng, độ pH, nhiệt độ, vi sinh vật đất. Nhưng các yếu tố này lại chiểu ảnh hưởng của cấu trúc đất.
 Để giúp cho quá trình chuyển hóa các chất khoáng từ dạng không tan thành dạng hòa tan, cây dễ hấp thụ, nhà nông thường sử dụng một số biện pháp như: làm cỏ sục bùn, phá váng sau khi đất bị ngập úng, cày phơi ải đất, cày lật úp rạ xuống, bón vôi đất chua,.........


Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
Nghị luận về câu: "Có công mài sắt có ngày nên kim"

Nghị luận về câu: "Có công mài sắt có ngày nên kim"

Nghị luận câu: Có công mài sắt có ngày nên kim
Trong cuộc sống con người ai cũng muốn thành đạt, nhưng con đường dẫn đến thành công thường quanh co và lắm chông gai. Để động viên con cháu vững chí, bền gan phấn đấu và tin tưởng ở thắng lợi, ông cha ta đã có câu : “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Vậy ta hiểu như thế nào về câu nói trên? 


”Kim” là vật dụng nhỏ dùng để may vá. Cây “kim” được làm bằng sắt, thật bé nhỏ nhưng cũng thật hoàn hảo. “Sắt” được sử dụng rộng rãi trong đời sống và có kích thước lớn. Từ “sắt” nên “kim” là một quá trình tôi luyện, mài giũa công phu. Muốn một thanh sắt trở thành một cây kim bé nhỏ, tiện dụng. Chúng ta cần mài từ ngày này sang ngày khác, thanh sắt đó được mài , mài mãi ...cho đến khi thanh sắt kia trở thành một thanh sắt bé nhỏ tiện dụng. Như vậy, muốn có một cây kim người thơ phải bỏ ra nhiều công sức và thời gian để mài thanh sắt. Nếu thanh sắt to. cứng mà ta có thể mài thành một cây kim nhỏ bé thì bất cứ chuyện gì ta cũng có thể làm được, chỉ cần ta biết kiên trì, nhẩn nại. Hình ảnh ẩn dụ đó mang ý nghĩa khẳng định : đức tính kiên trì, nhẫn nại là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công. Không chăm chỉ, không bắt tay vào công việc, không ai có thể thành công.

Thực tế cuộc sống đã cho chúng ta thấy điều đó là hoàn toàn đúng. Trong lịch sử hàng ngàn năm chống ngoại xâm, dân tộc Việt luôn phải thực hiện chiến lược lấy yếu đánh mạnh, trường kì kháng chiến. Cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh do Lê Lợi lãnh đạo; chiến dịch thần tốc đánh tan hai mươi vạn quân Thanh do Nguyễn Huệ chỉ huy; cho đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; tất cả đều thử thách ý chí, nghị lực và sự kiên trì, bền gan vững chí của dân tộc ta. Cuối cùng, dân tộc ta đã chiến thắng vẻ vang, giành được chủ quyền độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

Trong đời sống lao động sản xuất, nhân dân ta cũng đã thể hiện đức tính cần cù, kiên nhẫn đáng khâm phục. Nhìn những con đê sừng sững chạy dài suốt đôi bờ của những dòng sông lớn, chúng ta thấy người xưa đã kiên trì, bền bỉ tới mức nào để ngăn dòng nước lũ, bảo vệ mùa màng. Chỉ với đôi bàn tay cầm mai, đôi vai vác đất, nhưng ông cha ta đã làm nên những thành tựu vĩ đại, tồn tại muôn đời.

Trong học tập, đức tính kiên nhẫn lại càng cần thiết để có được thành công. Từ khi là học sinh lớp Một, vụng về cầm phấn tập tô những chữ cái đầu tiên, đến khi biết đọc, biết viết, biết làm Toán, làm văn, rồi lần lượt mỗi năm lên một lớp, phải mất 12 năm mới học xong bậc phổ thông. Trong thời gian khá dài ấy, nếu không kiên trì học tập thì làm sao có ngày chúng ta cầm được tấm bằng tốt nghiệp ?!. Người bình thường đã vậy, đối với những người tật nguyền thì lại càng cần đến ý chí và lòng kiên trì vượt khó để chiến thắng số phận bất hạnh.

Thế mới biết ý chí, nghị lực, đức tính kiên nhẫn, bền bỉ đóng vai trò quan trọng tới mức nào trong việc quyết định thành bại của từng công việc nói riêng và cả sự nghiệp của mỗi con người nói chung. Dù sự chăm chỉ rất quan trọng trong con đường đến thành công nhưng 1 con người chỉ chăm chỉ thì không thể thành công 1 cách rực rỡ hay nếu có cũng vô cùng khó khăn bởi lẽ nếu chỉ chăm chỉ, cố gắng, làm việc cả ngày cả đêm mà không có phương pháp, cách thức thông minh, hiệu quả thì chăm thế chứ chăm nữa cũng vô ích mà thôi! Bởi thế nên bên cạnh chăm chỉ phải có lòng kiên trì, nhẫn nại kết hợp với một phương pháp làm việc năng động và sáng tạo thì chúng ta mới có thể biến ước mơ thành hiện thực.

Muốn thành công thì không thể lười biếngchúng ta phải nỗ lực hết sức để đạt được mục đích sống, niềm vui, hạnh phúc của cuộc đời mình để thành đạt trong xã hội, làm đất nước thêm phồn vinh, phát triển, sánh ngang với các nước trên thế giới. Là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần phải không ngừng học tập, trau dồi kiến thức, đạo đức để đạt được thành công trong cuộc sống

Quả là người xưa có lời khuyên giản dị mà như một chân lí : “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Câu tục ngữ không chỉ là bài học về ý chí mà còn là lời động viên khuyến khích mọi người hãy lạc quan, hi vọng và tin tưởng. Kinh nghiệm của thế hệ trước là lời khuyên quý báu, lời cổ vũ, động viên tuổi trẻ trên con đường phấn đấu xây dựng một tương lai tươi sáng và cuộc sống tốt đẹp.
Sưu tầm

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
[Sinh 12] Bài 1: Gen - Mã di truyền - Nhân đôi AND

[Sinh 12] Bài 1: Gen - Mã di truyền - Nhân đôi AND

 I.Gen:

1. Khái niệm:

- Gen là 1 đoạn phân tử ADN mang thông tin mã hoá 1 chuỗi pôlipeptit hay 1 phân tử ARN.
Mô tả một đoạn Gen


2. Cấu trúc chung của gen cấu trúc:

a) Vùng điều hoà:

-Nằm ở đầu 3' của mạch mã gốc của gen.

-Trình tự các Nu của vùng tham gia vào quá trình phiên mã và điều hoà phiên mã.

b)Vùng mã hoá:

-Mang thông tin mã hoá các axit amin.

- sinh vật nhân sơ gen không phân mảnh còn sinh vật nhân thực gen thường phân mảnh.

c)Vùng kết thúc:

-Nằm ở đầu 5' cuả mạch mã gốc gen mang tín hiệu kết thúc phiên mã.

II. Mã di truyền:

1. Khái niệm:

-Trên gen cấu trúc cứ 3 Nu đứng liền nhau mã hoá cho 1 axit amin- Bộ ba mã hoá( triplet).

- Với 4 loại Nu® 64 bộ ba mã hoá trong đó có 3 bộ ba kết thúc( UAA, UAG, UGA) không mã hoá axit amin và 1 bộ ba mở đầu( AUG) mã hoá a.amin Met( SV nhân sơ là foocmin Met)

2. Đặc điểm:

-Mã di truyền được dọc từ 1 điểm xác định theo từng bộ ba Nu không gối lên nhau.

-Mã di truyền có tính phổ biến( hầu hết các loài đều có chung 1 bộ ba di truyền).

-Mã di truyền có tính đặc hiệu.

-Mã di truyền mang tính thoái hoá.

III. Quá trình nhân đôi ADN: 
(xem video quá trình nhân đôi AND)

1.Bước 1:(Tháo xoắn phân tử ADN)

-Nhờ các enzim tháo xoắn 2 mạch phân tử ADN tách nhau dần lộ ra 2 mạch khuôn và tạo ra chạc hình chữ Y ( chạc sao chép).

2. Bước 2:(Tổng hợp các mạch ADN mới)

-2 mạch ADN tháo xoắn được dùng làm mạch khuôn tổng hợp nên mạch mới theo nguyên tắc bổ sung( A liên kết với T, G liên kết với X).

-Mạch khuôn có chiều 3’® 5’ thì mạch mới được tổng hợp liên tục còn mạch khuôn có chiều 5’® 3’ thì mạch mới được tổng hợp từng đoạn( Okazaki) rồi sau đó nối lại với nhau.

3. Bước 3:2 phân tử ADN được tạo thành)
- Trong mỗi phân tử ADN mới có 1 mạch của phân tử ADN ban đầu( bán bảo toàn) và 1 mạch mới được tổng hợp.

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
[Địa lí 11] Bài 12: Ô Xtrây Li A

[Địa lí 11] Bài 12: Ô Xtrây Li A

BÀI 12: Ô – XTRÂY – LI – A
TIẾT 1: KHÁI QUÁT VỀ Ô – XTRÂY – LI – A

I. Tự nhiên, Dân cư và xã hội
1. Vị trí địa lí và Điều kiện tự nhiên 
- Quốc gia duy nhất chiếm cả lục địa, đứng thứ 6 về diện tích










 2. Dân cư và Xã hội
- Cư dân bản địa sống lâu đời, cuối thế kỷ XVIII mới có ngừơi Âu
- Là một quốc gia liên bang đa dân tộc, đa tôn giáo, đa văn hóa
- Phân bố dân cư không đều:
+ Mật độ thấp: vùng nội địa
+ Đông đúc vùng ven biển đông nam và tây nam
- DS sống ở thành thị cao
- DS tăng do nhập cư là chủ yếu
- Úc quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực cao

II. Kinh tế
1. Khái quát
- Nền KT phát triển
- Các ngành hàm lượng tri thức cao góp 50% GDP
- Tốc độ tăng trường cao, môi trường đầu tư hấp dẫn
2. Dịch vụ 
- Có vai trò rất quan trọng
- Mạng lưới ngân hàng, tài chính, thương mại điện tử rất phát triển
- Hàng không nội địa phát triển
- Ngoại thương và du lịch phát triển mạnh
3. Công nghiệp
- Có trình độ phát triển cao nhưng XK nhiều nguyên liệu thô
- Phát triển mạnh các ngành công nghệ cao
- Trung tâm CN lớn là Xit-ni, Menbơn
4. Nông nghiệp
- Là nước có nền NN hiện đại, SX dựa vào các trang trại có qui mô và trình độ kĩ thuật cao
- SX và XK nhiều nông sản
- Chăn nuôi chiếm vai trò chính

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
[Địa lí 11] Bài 11: Đông Nam Á

[Địa lí 11] Bài 11: Đông Nam Á

BÀI 11: KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
TIẾT 1: TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ

I. Tự nhiên
1. Vị trí địa lí và lãnh thổ
- Nằm ở đông nam châu Á, tiếp giáp Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, cầu nối giữa lục địa Á-Âu với Lục địa Úc.
- ĐNÁ bao gồm hệ thống bán đảo, đảo, quần đảo xen giữa biển rất phức tạp
- ĐNÁ có vị trí quan trọng, nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa lớn, nơi các cường quốc cạnh tranh ảnh hưởng
2. Điều kiện tự nhiên













 3. Đánh giá điều kiện tự nhiên của Đông Nam Á












II. Dân cư và xã hội
1. Dân cư
- Dân số đông, mật độ cao
- Tỉ suất gia tăng tự nhiên còn cao nhưng đang suy giảm
- DS trẻ
- Nguồn lao động tuy dồi dào nhưng trình độ còn hạn chế => ảnh hưởng tới vấn đề việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống
- Phân bố dân cư không đều: tạp trung ở đồng bằng, ven biển, vùng đất đỏ
2. Xã hội
- Các quốc gia có nhiều dân tộc
- Một số dân tộc phân bố rộng => ảnh hưởng quản lí, xã hội, chính trị
- Là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa và 
tôn giáo lớn
- Phong tục, tập quán, sinh hoạt văn hóa có nhiều nét tương đồng



TIẾT 2: KINH TẾ
I. Cơ cấu kinh tế
- Có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ
II. Công nghiệp
- Phát triển theo hướng tăng cường liên doanh, liên kết với nước ngoài, hiện đại hóa thiết bị, chuyển giao công nghệ và đào tạo kĩ thuật cho người lao động, SX các mặt hàng XK => tích lũy vốn
- Các ngành:
+ SX và lắp ráp ô tô, thiết bị điện tử
+ Khai thác khoáng sản: dầu khí, than,..
+ Dệt may, da giày, CB thực phẩm, … => XK 
III. Dịch vụ 
- GTVT được mở rộng và tăng thêm
- TTLL cải thtiện và nâng cấp
- Hệ thống ngân hàng và tín dụng được phát triển và hiện đại
IV. Nông nghiệp: nền NN nhiệt đới
1. Trồng lúa nước
- Cây lương thực truyền thống và quan trọng
- Sản lượng không ngừng tăng
- Thái Lan và VN XK nhiều nhất, Indonesia 
SX nhiều nhất
2. Trồng cây công nghiệp
- Có cao su, cà phê, hồ tiêu,..=> chủ yếu XK
3. Chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản
- Chăn nuôi tuy có số lượng nhiều nhưng chưa thành ngành chính: trâu bò, lợn, gia cầm
- Ngành nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản là ngành truyền thống và đang phát triển

TIẾT 3: HIỆP HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á (ASEAN)
I. Mục tiêu và cơ chế hợp tác của ASEAN
- Năm 1967: 5 nước thành lập ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á)t ại Băng Cốc
- Hiện nay là 10 thành viên
1. Các mục tiêu chính (SGK)
2. Cơ chế hợp tác(SGK)
II. Thành tựu của ASEAN
- 10/ 11 quốc gia ĐNÁ là thành viên của ASEAN
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao dù chưa đều và chắc
- Tạo dựng môi trừơng hòa bình, ổn định
III. Thách thức của ASEAN
1. Trình độ phát triển còn chênh lệch
2. Vẫn còn tình trạng đói nghèo
3. Các vấn đề XH khác
- Đô thị hóa nhanh
- Các vấn đề tôn giáo, dân tộc
- Sử dụng và bảo vệ TNTN
- Nguồn nhân lục
IV. Việt Nam trong quá trình hội nhập ASEAN
- VN gia nhập ASEAN vào năm 1995
- Từ ngày tham gia VN tích cực tham gia vào các hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, đóng góp nhiều sáng kiến
- Hợp tác chặt chẽ về KT
- Tham gia ASEAN, VN có nhiều cơ hội phát triển nhưng không ít thách thức đặt ra


Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
[Địa lí 11] Bài 10: Trung Quốc

[Địa lí 11] Bài 10: Trung Quốc

BÀI 10: CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA (TRUNG QUỐC)


TIẾT 1: TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ LÃNH THỔ
- Diện tích lớn thứ 4 TG
- Giáp 14 nước nhưng biên giới là núi cao và hoang mạc ở phía tây, nam và bắc
- Phía Đông giáp biển, gần với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đông Nam Á
II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN



III. Dân cư và xã hội
1/ Dân cư
- Đông nhất TG
- Đa số là người Hán,các dân tộc khác sống tại vùng núi và biên giới, hình thành khu tự trị
- Miền đông tập turng nhiều đô thị lớn
- TQ thi hành chính sách DS triệt để: mỗi gia đình 1 con => tỉ lệ gia tăng tự nhiên giảm, đồng thời tư tưởng trọng nam khinh nữ => tiêu cực tới giới tính, nguồn lao động và các vấn đề xã hội khác
2/ Xã hội
- Chú trọng đầu tư phát triển giáo dục
- 90% DS biết chữ
- Truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và nhân lực dồi dào là tiềm năng lớn của Trung Quốc


TIẾT 2: KINH TẾ

I. Khái quát
- Công cụôc hiện đại hóa mang lại những thay đổi lớn trong nền KT TQ
-Tốc độ tăng trưởng KT cao nhất TG, đời sống người dân hiện được cải thiện rất nhiều
II. Các ngành kinh tế
1. Công nghiệp
- Trong quá trình chuyển đổi nền KT, các nhà máy, xí nghiệp được chủ động trong SX và tiêu thụ
- TQ thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường trao đổi hàng hóa với thị trừơng TG
- Cho phép các công ty, doanh nghiệp nước ngoài tham gia đầu tư, quản lí SX CN tại các đặc khu, khu chế xuất
- Chủ động đầu tư, hiện đại hóa trang thiết bị, ứng dụng công nghệ cao
- Tập turng chủ yếu vào 5 ngành: chế tạo máy, điện tử, hóa dầu, SX ô tô và xây dựng
- Các trung tâm CN lớn đều tập trung ở miền Đông
- Công nghiệp hóa nông thôn
2. Nông nghiệp
- Diện tích đất canh tác chỉ chiếm 7% TG nhưng phải nuôi 20% DS TG
- Áp dụng nhiều biện pháp, chính sách cải cách NN
- Đã SX được nhiều loại nông sản với năng suất cao, đứng đầu TG
- Ngành trồng trọt chiếm ưu thế, trong đó quan trọng là cây lương thực nhưng BQLT/ người thấp
- Đồng bằng châu thổ là các vùng NN trù phú
- Hoa Bắc, Đông Bắc: lúa mì, ngô, củ cải đường
- Hoa Trung, Hoa Nam: lúa gạo, mía, chè,
bông
III. Quan hệ Trung - Việt
- Trung - Việt có mối quan hệ lâu đời và ngày càng phát triển trên nhiều lĩnh vực, nền tảng là tình hữu nghị và ổn định lâu dài
- Từ năm 1999, quan hệ hợp tác trên 16 chữ

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
[Địa lí 11] Bài 9: Nhật Bản

[Địa lí 11] Bài 9: Nhật Bản

BÀI 9: NHẬT BẢN


TIẾT 1: TỰ NHIÊN, DÂN CƯ VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ

I. Điều kiện tự nhiên
- Quần đảo ở Đông Á trên Thái Bình Dương, gồm 4 đảo lớn: Hôn su , Kiu xiu, Sicôcư, Hôccaiđô
- Dòng biền nóng lạnh gặp nhau tạo nên ngư trường lớn
- Khí hậu gió mùa, mưa nhiều
- Thay đổi theo chiều Bắc Nam
+ Bắc: ôn đới, mùa đông dài lạnh, có tuyết rơi
+ Nam: cận nhiệt đới, mùa đông không lạnh lắm, mùa hạ nóng, có mưa to và bão
- Nghèo khóang sản, chỉ có than, đồng
II. Dân cư
- Là nước đông dân
- Tốc độ gia tăng thấp và giảm dần => DS già
- Dân cư tập trung tại các thành phố ven biển
- Người lao động cần cù, làm việc tích cực, tự giác và trách nhiệm cao
- Giáo dục được chú ý đầu tư
III. Kinh tế : cường quốc thứ 2 KT TG
a/ Trước 1973
- Tình hình:
+ Sau WWII, KT suy sụp nghiêm trọng
+ 1952 khôi phục ngang mức chiến tranh
+ 1955-1973: phát triển tốc độ cao
- Nguyên nhân:
+ Hiện đại hóa công nghiệp, tăng vốn , kĩ thuật
+ Tập trung vào các ngành then chốt, có trọng điểm theo từng giai đọan
+ Duy trì KT 2 tầng: xí nghiệp lớn-xí nghiệp nhỏ, thủ công
b/ Sau 1973
- Tình hình: tốc độ tăng KT chậm
- Nguyên nhân: khủng hoảng dầu mỏ



TIẾT 2: CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ CÁC VÙNG KINH TẾ
I. Các ngành kinh tế
1. Công nghiệp
- Giá trị đứng thứ 2 TG
- Chiếm vị trí cao về SX máy công nghiệp, điện tử, người máy, tàu biển,…
2. Dịch vụ
- Là KV KT quan trọng
- Thương mại và tài chính là 2 ngành chủ chốt
- Đứng thứ 4 TG về thương mại
- GTVT biển đứng thứ 3 TG với các cảng lớn: Cô-bê, I-cô-ha-ma, Tokyo, Osaca
- Đứng đầu TG về tài chính, ngân hàng
- Đầu tư ra nước ngoài ngày càng nhiều
3. Nông nghiệp
- Chỉ đóng vai trò thứ yếu trong nền KT
- Diện tích đất NN ít => thâm canh=> tăng năng suất và chất lượng
- Trồng trọt:
+ Lúa gạo: cây trồng chính, 50% diện tích trồng trọt nhưng đang giảm
+ Chè, thuốc lá, dâu tằm
- Chăn nuôi tương đối phát triển theo phương pháp tiên tiến
- Nuôi trồng đánh bắt hải sản phát triển
II. Bốn vùng kinh tế gắn với bốn đảo lớn
(SGK) 

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>