[Địa lí 11] Bài 7: Liên minh Châu Âu (EU)

[Địa lí 11] Bài 7: Liên minh Châu Âu (EU)

BÀI 7: LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
TIẾT 1: EU – LIÊN MINH KHU VỰC LỚN NHẤT THẾ GIỚI

I. Quá trình hình thành và phát triển
1. Sự ra đời và phát triển
- Sau WWII, các nước Tây Âu tăng cường liên kết
- Năm 1951 thành lập cộng đồng Than và Thép châu Âu
- 1957: cộng đồng kinh tế châu Âu
- 1958: cộng đồng nguyên tử
- 1967: thống nhất 3 tổ chức trên thành cộng đồng châu Âu (EC)
- 1993, đổi tên thành Liên minh châu Âu (EU)
- Từ 6 nước ban đầu (1957) đến 2007 là 27 nước
2. Mục đích và thể chế của EU
- Mục đích: 
+ Xây dựng phát triển khu vực mà nơi đó hàng hóa, người, vốn được tự do lưu thông giữa các thành viên
+ Tăng cường hợp tác, liên kết KT, luật pháp, an ninh và ngoại giao
- Thể chế:
+ Hội đồng châu Âu
+ Nghị viện
+ Hội đồng bộ trưởng
+ Ủy ban liên minh


II. Vị thế của EU trong nền KT thế giới
1. Trung tâm kinh tế hàng đầy thế giới
- Hình thành nên thị trường chung và sử dụng cùng đồng tiền ơ-rô => EU trở thành trung tâm KT hàng đầu TG
- Vẫn có sự chênh lệch về trình độ giữa các nước
2. Tổ chức thương mại hàng đầu
- KT EU phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu
- Các nước dỡ bỏ thuế quan với nhau và có chung 1 mức thuế
- EU dẫn đầu TG về thương mại
- EU là bạn hàng lớn nấht của các nước đang phát triển
- EU hạn chế nhập nhiều mặt hàng công nghiệp và trợ giá cho nông sản

TIẾT 2: EU- HỢP TÁC, LIÊN KẾT ĐỂ CÙNG PHÁT TRIỂN
I. Thị trường chung Châu Âu
1. Tự do lưu thông
- 1993, EU htiết lập thị trường chung
a/ Tự do di chuyển: tự do đi lại, cư trú, nơi làm việc
b/ Tự do lưu thông dịch vụ
c/ Tự do lưu thông hàng hóa
d/ Tự do lưu thông tiền vốn
2. Euro – đồng tiền chung Châu Âu
- 1999: chính thức lưu thông
- 2004: 13 thành viên sử dụng
- Lợi ích:
+ Nâng cao sức cạnh tranh
+ Xóa bỏ những rủi ro khi chuyển đổi tiền tệ
+ Thậun lợi việc chuyển vốn
+ Đơn giản công tác kế toán các doanh nghiệp
II. Hợp trong sản xuất và dịch vụ
1. Sản xuất máy bay Airbus
- Do Anh, Pháp, Đức sáng lập, nhằm cạnh tranh với các công ty của Hoa Kỳ
2. Đường hầm giao thông Măng-sơ
- Nối liền nước Anh với lục địa hoàn tàhnh vào 1994
- Lợi ích:
+ Hàng hóa vận chuyển trực tiếp từ Anh tới lục địa không cần trung chuyển bằng phà và ngược lại
+ Đường sắt siêu tốc phục vụ có thể cạnh tranh với hàng không
III. Liên kết vùng Châu Âu (Euroregion)
1. Khái niệm
Người dân các nước khác nhau tiến hành các hoạt động hợp kinh tế, XH, văn hóa một cách tự nguyện vì lợi ích chung các bên tham gia
2. Liên kết vùng Ma-xơ Rai-nơ
Hình thành tại biện giới Hà Lan, Đức và Bỉ


TIẾT 4: CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC
I. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
- Nằm ở trung tâm châu Âu
=> thuân lợi thông thương với các nước khác, cầu nối giữa Đông Tây Bắc Nam của châu Âu
- KH: ôn đới với nhiều cảnh quan đa dạng => du lịch
- Nghèo KS, đáng kể là than và muối mỏ
II. Dân cư và xã hội
- Mức sống cao
- Dân số già, tỉ suất sinh thấp => chính phủ có nhiều chính sách khuyến khích gia đình đông con.
- DS tăng chủ yếu do nhập cư
- Giáo dục đào tạo được chú trọng
III. Kinh tế
1. Khái quát
- Là cường quốc KT, đang có xu hướng chuyển từ nền KT CN sang nền KT tri thức
- Cơ cấu KT: DV chiếm chủ yếu 70%, NN và CN là 30%
2. Công nghiệp
- Nhiều ngành CN có vị trí cao
- Năng suất lao động cao, luôn đổi mới và áp dụng công nghệ hiện đại => sản phẩm chất lượng cao
- Người lao động sáng tạo
3. Nông nghiệp
- Được cơ giới hóa, chuyên môn hóa, áp dụng kĩ thuật cao nên năng suất tăng mạnh
- Nổi tiếng là lúa mì, gia súc, sữa

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
Quảng cáo
Facebook Fan
[Địa lí 11] Bài 6: Hợp chúng quốc Hoa Kì

[Địa lí 11] Bài 6: Hợp chúng quốc Hoa Kì

B. ĐỊA LÍ KHU VỰC VÀ QUỐC GIA
BÀI 6: HỢP CHÚNG QUỐC HOA KÌ
TIẾT 1: TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ
I. Lãnh thổ và vị trí địa lí
1. Lãnh thổ
 
- Trung tâm Bắc Mĩ => lãnh thổ cân đối => thuận lợi cho phân bố SX và phát triển GT
- Bán đảo A-lax-ca và Haoai
2.Vị trí địa lí
 
- Nắm ở Tây bán cầu
- Giữa 2 đại dương: Thái Bình Dương
- Tiếp giáp Canada và Mĩ Latinh
II. Điều kiện tự nhiên
 
1. Phần lãnh thổ trung tâm Bắc Mĩ 
 
 
2. A-la-xca và Haoai 
- A-la-xca: đồi núi, giàu có về dầu khí
- Haoai: nằm giữa Thái Bình Dương, phát triển du lịch và hải sản

III. Dân cư
 
1. Gia tăng dân số
 
- Dân số đứng thứ 3 TG
- DS tăng nhanh, phần nhiều do nhập cư, chủ yếu từ châu Âu, Mĩ latinh, Á
- Người nhập cư đem lại nguồn tri thức, vốn và lực lượng lao động
2. Thành phần dân cư
 
- Đa dạng:
+ Có nguồn gốc chủ yếu từ châu Âu
+ Gốc chấu Á và Mĩ Latinh đang tăng mạnh
+ Dân Anhđiêng còn 3 triệu người
3. Phân bố dân cư
 
- Tập trung ở :
+ Vùng Đông Bắc và ven biển
+ Sống chủ yếu ở các đô thị
- Dân cư có xu hướng chuyển từ Đông Bắc xuống phíaNam và ven TBD

TIẾT 2: KINH TẾ
I. Qui mô nền kinh tế
- Đứng đầu TG
II. Các ngành kinh tế
 
1. Dịch vụ: 
phát triển mạnh chiếm tỉ trọng cao 79.4% GDP –năm 2004
a/ Ngoại thương
 
- Đứng đầu TG
b/ Giao thông vận tải
 
- Hệ thống đường và phương tiện hiện đại nhất TG
c/ Các ngành tài chính, thông tin liên lạc, du lịch
 
- Ngành ngân hàng và tài chính hạot động khắp TG, tạo nguồn thu và lợi thế cho KT Hoa Kì
- Thông tin liên lạc rất hiện đại
- Ngành DL phát triển mạnh
2. Công nghiệp:
 là ngành tạo nguồn hàng XK chủ yếu
- Tỉ trọng trong GDP giảm dần: 19,7% năm 2004
- 3 nhóm:
+ CN chế biến chiếm chủ yếu về xuất khẩu và lao động
+ CN điện
+ CN khai khoáng
- Giảm tỉ trọng các ngành truyền thống tăng
các ngành hiện đại
- Phân bố:
+ Trước đây: tập trung ở Đông Bắc với các ngành truyền thống
+ Hiện nay: mở rộng xuống phái nam và Thái Bình Dương với các ngành hiện đại
3. Nông nghiệp
 : đứng hàng đầu TG
- Chiếm tỉ trọng nhỏ 0,9% năm 2004
- Cơ cấu có sự chuyển dịch: giảm thuần nông tăng dịch vụ NN
- Phân bố: đa dạng hóa nông sản trên cùng lãnh thổ => các vành đai chuyên canh -> vùng SX nhiều lọai nông sản theo mùa vụ
- Hình thức: chủ yếu là trang trại: số lượng giảm dần nhưng diện tích trung bình tăng
- Nền NN hàng hóa hình thành sớm và phát triển mạnh
- Là nước XK nông sản lớn
- NN cung cấp nguyên liệu cho CN chế biến

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
[Địa lí 11] Bài 5: Một số vấn đề châu lục và khu vực

[Địa lí 11] Bài 5: Một số vấn đề châu lục và khu vực

BÀI 5: MỘT SỐ VẦN ĐỀ CỦA CHÂU LỤC VÀ KHU VỰC

TIẾT 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA CHÂU PHI






=> khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên
II. Một số vấn đề dân cư và xã hội
 
- Tỉ suất sinh cao nên DS tăng nhanh
- Tuổi thọ TB thấp
- Dịch bện HIV
- Trình độ dân trí thấp, nhiều hủ tục
- Xung đột sắc tộc, đói nghèo, bệnh tật
=> được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tổ
chức TG
III. Một số vấn đề Kinh tế
 
- Đa số các nước Châu Phi nghèo, kém phát triển
- Nguyên nhân:
+ Hậu quả của sự thống trị lâu dài chủ nghĩa thực dân
+ Xung đột, chính phủ yếu kém,….
- Nền KT châu Phi cũng đang thay đổi tích cực



TIẾT 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA MĨ LA TINH
I. Một số vấn đề tự nhiên, dân cư và xã hội
1. Tự nhiên
 
* Thuận lơi:
- Nhiều loại kim loại màu, kim loại quý và nhiên liệu
- Tài nguyên đất, khí hậu thuận lợi cho phát triển rừng, chăn nuôi gia súc, trồng cây CN và cây ăn quả nhiệt đới
* Khó khăn:
- Khai thác nhiều
2. Dân cư và xã hội
 
- Dân cư còn nghèo đói
- Thu nhập giữa người giàu và nghèo có sự chênh lệch rất lớn
- Đô thị hóa tự phát => đời sống dân cư khó khăn => ảnh hưởng vấn đề XH và phát triển KT

II. Một số vấn đề Kinh tế
 
- Tốc độ phát triển KT không đều, chậm thiếu ổn định
- Nợ nước ngòai lớn
- Nguyên nhân:
+ Tình hình chính trị thiếu ổn định
+ Các thế lực bảo thủ cản trở
+ Chưa xây dựng được đường lối phát triển KT-XH độc lập, tự chủ
- Hiện nay, các quốc gia Mĩ Latinh đang cải cách



TIẾT 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA

KHU VỰC TÂY NAM Á VÀ KHU VỰC TRUNG Á

I. Đặc điểm của khu vực Tây Nam Á và khu vực Trung Á:
 
có vị trí địa – chính trị quan trọng
1/ Tây Nam Á
 
- Diện tích 7 triệu km2 với 313 triệu người
- Tài nguyên chủ yếu dầu khí tập trung qunah vịnh Pec-xich
- Nơi ra đời nhiều tôn giáo, nền văn minh
- Hiện nay đa số dân cư theo đaọ Hồi nhưng bị chia rẽ thành nhiều giáo phái =>mất ổn định
2/ Trung Á
 
- Khub vực giàu có về tài nguyên dầu khí, sắt, đồng, thủy điện, than, urani…
- Khí hậu khô hạn =>trồng bông và cây CN
- Các thảo nguyên chăn thả gia súc
- Khu vực đa sắc tộc, mật độ DS thấp
- Trừ Mông Cổ, đa số dân cư theo đaọ Hồi
- Giao thoa văn minh phương Đông và Tây

II. Một số vấn đề của khu vực Tây Nam Á và khu vực Trung Á
 
1. Vai trò cung cấp cấp dầu mỏ
 
- Trữ lượng dầu mỏ lớn, Tây Nam Á chiếm 50% TG => nguồn cung chính cho TG
=> trở thành nơi cạnh tranh ảnh hưởng của nhiều cường quốc
2. Xung đột sắc tộc, tôn giáo và nạn khủng
 
bố
 
- Nguyên nhân:
+ Tranh giành đất đai, nguồn nước và tài nguyên
+ Can thiệp của nước ngoài, các tổ chức cực đoan
- Thể hiện: xung đột dai dẳng của người Arab-Do thái
- Hậu quả: tình trạng đói nghèo ngày càng tăng

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
no image

[Địa Lí 11] Bài 3: Một số vấn đề mang tính toàn cầu

BÀI 3:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ MANG TÍNH TOÀN CẦU

I. Dân số
1. Bùng nổ DS
- DS TG tăng nhanh, nhất là nửa sau thế kỷ XX
- DS bùng nổ hiện nay chủ yếu ở các nước đang phát triển
2. Già hóa dân số
- DS TG có xu hướng già đi:
+ Tỉ lệ người < 15 tuổi giảm
+ Tỉ lệ > 65 tuổi tăng
II. Môi trừơng
1. Biến đổi khí hậu toàn cầu và Suy giảm tầng ô dôn
- Lượng CO2 tăng => hiệu ứng nhà kính tăng => nhiệt độ Trái đất tăng
- Khí thải từ SX CN và sinh hoạt => mưa axit => tầng ôdôn mỏng và thủng
2. Ô nhiễm MT nước ngọt, biển và
đại dương
- Chất thải CN và sinh hoạt chưa xử lí => đổ trực tiếp vào sông hồ => ô nhiễm => thiếu nước sạch
- Chất thải CN chưa xử lí => đổ trực tiếp vào sông biển, đắm tàu, rửa tàu, tràn dầu => MT biển chịu nhiều tổn thất
3. Suy giảm đa dạng sinh học
- Khai thác thiên nhiên quá mức => sinh vật bị tuyệt chủng hoặc sắp tuyệt chủng => mất nhiều loài SV, gen di truyền, thực phẩm, htuốc, nguyên liệu SX…
III. Một số vấn đề khác
- Khủng bố, xung đột sắc tộc, tôn giáo

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
[Địa Lí 11] Bài 2: Xu hướng tòan cầu hóa, khu vực hóa kinh tế

[Địa Lí 11] Bài 2: Xu hướng tòan cầu hóa, khu vực hóa kinh tế

BÀI 2:
XU HƯỚNG TÒAN CẦU HÓA, KHU VỰC HÓA KINH TẾ

I. Xu hướng toàn cầu hóa
- Là quá trình liên kết các quốc gia về KT, văn hóa, khoa học,..
1. Tòan cầu hóa về kinh tế
a/ Thương mại phát triển
b/ Đầu tư nước ngoài tăng nhanh
c/ Thị trường tài chính mở rộng
d/ Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn
2/ Hệ quả của toàn cầu hóa
- Tích cực: thúc đẩy SX phát triển, tăng trưởng KT, đầu tư, tăng cường hợp tác quốc tế
- Thách thức: gia tăng khỏang cách giàu nghèo
II. Xu hướng khu vực hóa KT
1. Các tổ chức liên kết KT khu vực
- Nguyên nhân: do phát triển không đều và sức ép cạnh tranh trên TG, những quốc gia tương đồng về văn hóa, XG, địa lí hoặc có chung mục tiêu, lợi ích
- Các tổ chức liên kết KV
2/ Hệ quả của khu vực hóa KT
- Tích cực: vừa hợp tác vừa cạnh tranh tạo nên sự tăng trưởng KT, tăng tự do thương mại, đầu tư, bảo vệ lợi ích KT các nước thành viên; tạo những thị trường rộng lớn, tăng cường tòan cầu hóa KT
- Thách thức: quan tâm giải quyết vấn đề như chủ quyền KT, quyền lực quốc gia

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
no image

[Địa lí 11] Bài 1: Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nhóm nước. cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

BÀI 1:
SỰ TƯƠNG PHẢN VỀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC NHÓM NƯỚC.
CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HIỆN ĐẠI
ISự phân chia TG thành các nhóm nước
- Trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau được chia làm 2 nhóm nước: phát triển và đang phát triển
- Các nước đang phát triển thường có GDP/ người thấp, nợ nhiều, HDI thấp
- Các nước phát triển thì ngược lại
- Một số nước vùng lãnh thổ đạt được trình độ nhất định về CN gọi là các
nước công nghiệp mới (NICs)

II. Sự tương phản về trình độ phát triển KT _XH của các nhóm nước
- GDP BQĐN chênh lệch lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển
- Trong cơ cấu KT,
+ các nước phát triển KV dịch vụ chiếm tỉ lệ rất lớn, NN rất nhỏ
+ các nước đang phát triển tỉ lệ ngành NN còn cao
- Tuổi thọ TB các nước phát triển > các nước đang phát triển
- HDI các nước phát triển > các nước đang phát triển

III. Cuộc CM KH và CN hiện đại
- Cuối thế kỷ XX, đầu TK XXI, CM KH và CN hiện đại xuất hiện
- Đặc trưng: bùng nổ công nghệ cao
+ Dựa vào thành tựu KH mới với hàm lượng tri thức cao
+ Bốn trụ cột:
* Công nghệ sinh học
* Công nghệ vật liệu
* Công nghệ năng lượng
* Công nghệ thông tin
=> nền KT tri thức

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài thơ Độc Tiểu Thanh Kí

Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài thơ Độc Tiểu Thanh Kí

TIẾNG KHÓC CỦA NGUYỄN DU TRONG BÀI THƠ ĐỘC TIỂU THANH KÍ




Đau đớn, xót thương cho mọi số kiếp khổ đau trong nhân gian là tình cảm lớn, xuyên suốt hầu hết sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du. Từ tập đại thành Truyện Kiều đến Văn tế thập loại chúng sinhPhản Chiêu hồnSở kiến hànhLong Thành cầm giả ca,Độc Tiểu Thanh Kí..., ở văn bản nào, chùng ta cũng được chứng kiến nỗi niềm đau đáu khôn nguôi của người nghệ sĩ có con mắt trông thấy sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời (Mộng Liên Đường chủ nhân). Lo đời, thương người, nên suốt đời thơ Nguyễn du là tiếng khóc nhân sinh đau đớn:

 

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. 
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh luỵ phần sư
Cổ kim hận sự thiên nan vấn, 
Phong vận kì oan ngã tự cư.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân kháp Tố Như?

Có thể thấy ở hầu hết các sáng tác, Nguyễn Du luôn dành tiếng khóc lớn cho những người phụ nữ khốn khổ, những cô gái tài hoa bạc mệnh. Họ là Thuý Kiều, Đạm Tiên (Truyện Kiều), là người con gái đánh đàn ở đất Long Thành (Long Thành cầm giả ca), là người mẹ nghèo khổ của bầy con nheo nhóc (Sở kiến hành)… Với Độc Tiểu Thanh Kí, Nguyễn Du lại thêm một lần nữa nức nở vì người con gái mang tên Tiểu Thanh. Tiểu Thanh là cô gái sống ở đầu đời Minh (Trung Quốc), tên thật là Phùng Huyền Huyền. Nàng nổi tiếng tài hoa, xinh đẹp nhưng sớm phải đem thân đi làm vợ lẽ họ Phùng. Cuộc đời nàng mang nhiều bi kịch. Tiểu Thanh luôn bị vợ cả của chồng ghen tị. Nàng bị bắt dọn ra núi Cô Sơn để ở. Tiểu Thanh mất khi mới mười tám tuổi. Mọi tư trang, thư tịch của nàng bị người vợ cả đốt hết để hả lòng ghen giận. Nhan đề Độc Tiểu Thanh Kícó thể hiểu là đọc những ghi chép về Tiểu Thanh hoặc đọc tiểu truyện về Tiểu Thanh sau đó ghi lại cảm xúc. Như vậy, có thể hiểu các ghi chép hay tiểu truyện ấy chính là nguyên cớ khiến nhà thơ của chúng ta đau đớn cất lên tiếng thơ ai động đất trời (Tố Hữu).

Đọc bài thơ, bất cứ ai cũng nhận thấy tiếng khóc Nguyễn Du trước hết hướng tới số phận bi kịch của nàng Tiểu Thanh với nỗi niềm cảm thương dào dạt:

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư

Tây Hồ vốn là một cảnh đẹp thuộc tỉnh Chiết Giang – Trung Quốc, trước đây vốn là nơi huy hoàng, thịnh vượng (hiểu theo cách giải nghĩa của Từ hải từ nguyên về hai chữ hoa uyển). Câu thơ đầu thể hiện triết lí, sự nhìn nhận khái quát về thời cuộc: sự suy tàn, đổ nát của thời đại (xưa là vườn hoa đẹp, nay thành gò hoang trơ trụi, tiêu điều, tang thương). Sự đổi thay của thiên nhiên, cảnh vật được diễn đạt triệt để thông qua từ tẫn (nghĩa là hếtcùng), nó nhấn mạnh qui luật biến thiên dâu bể. Viết câu thơ này, chắc chắn Nguyễn Du không chỉ thổn thức trước vẻ đẹp của quá khư bị tiêu tan, tàn lụi trước năm tháng thời gian. Dường như nhà thơ còn ngầm ý muốn đặt bi kịch, số phận của người con gái trong mối quan hệ gắn kết với sự tàn lụi của thời đại. Điều này được triển khai cụ thể ở các dòng tiếp theo:

Độc điều song tiền nhất chỉ thư.

Tiếng khóc của Nguyễn Du khởi phát từ nhất chỉ thư (mảnh giấy). Mảnh giấy là vật chứng lưu kí bao tâm sự của một con người. “Mảnh giấy” khác so với “quyển”. Mảnh giấy tàn trước cửa sổ ám chỉ số phận chóng tàn, mỏng manh, khái quát về số phận, giá trị tinh thần bị huỷ hoại, quên lãng, vùi dập, đương nhiên, trong đó có Tiểu Thanh. Người nghệ sĩ đa mang không khóc thương cho những cái trọn vẹn, đầy đặn, mà lại xúc động trước cái mong manh, dở dang gắn liền với số phận của con người bạc mệnh. Điều đặc biệt là không có ai khóc cùng Nguyễn Du. Chữ độc đứng đầu dòng thơ nhấn mạnh tâm thế của tác giả - đó là tâm thế xót thương trong nỗi cô đơn. Chỉ riêng một mình nhà thơ thấm thía về cuộc đời, thân phận mong manh của con người. Suy cho rộng, Tiểu Thanh chính là cái cớ để Nguyễn Du thể hiện triểt lí của mình về “tài mệnh tương đố”. Nói như vậy cũng có nghĩa Nguyễn Du không chỉ khóc thương riêng cho người con gái họ Phùng mà còn khóc cho biết bao thân phận phụ nữ khác:

Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
(Truyện Kiều)

Nếu như dòng thơ đầu khái quát về sự hoang tàn, đổ nát của thời đại thì dòng thơ thứ hai nói lên thân phận của con người trong thời đại ấy. Đó chính là mỗi tương liên giữa số phận, cuộc đời người con gái này với cuộc biến thiên dâu bể. Từ qui luật mang tầm khái quát, lớn lao, Nguyễn Du đã đi vào trường hợp cụ thể là cuộc đời nàng:


Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.

Tiếng khóc của Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh hướng tới hai giá trị cụ thể là chi phấn (son phấn) và văn chương biểu trưng cho vẻ đẹp hình sắc và cái đẹp tâm hồn. Điều này không khó lí giải bới ai cũng biết Tiểu Thanh là người con gái có nhan sắc và hết sức tài hoa. Son phấn có thần nên vẫn phải ôm hận kể cả sau khi chết, văn chương không có thân mệnh cụ thể nhưng phải chịu sự hạnh hạ, phải mang luỵ. Đó là cách chúng ta diễn giải để hiểu rõ hơn về hai dòng thơ này. Tiến sĩ Hán Nôm Hà Minh đã khái quát như sau: Son phấn là thân xác, nó phải chịu nỗi đau tinh thần sau khi chết, văn chương là tinh thần nhưng lại phải chịu nỗi đau thể xác. Như vậy, cái đẹp nói chung đều phải chịu sự chà đẹp. Nỗi đau thể xác và bi kịch tinh thần được đồng nhất trong số phận oan nghiệt của một cuộc đời. Lời thơ đong đầy nỗi niềm tiếc thương, xót xa, đau đớn. Nhan sắc ấy, tài năng ấy có lẽ đâu lại phải chịu đựng sự chà đạp phũ phàng nhường vậy? Phép đối học (chi phấn hữu thần – văn chương vô mệnhliên tử hậu - luỵ phần dư) càng khiến nỗi đau trở nên dai dẳng, mang ý nghĩa nhân loại. Nguyễn Du đã khóc cho bao người con gái như Tiểu Thanh, đã nhỏ lệ cho bao nhiêu số phận cay đắng như náng? Thật khó để kể cho hết. Nhưng có thể hiểu rằng, bất kì sự lụi tàn, đau đớn của một nhan sắc, một tài hoa - nghệ sĩ nào, nước mắt nhà thơ cũng tuôn rơi đầy xót thương và hết sức chân thành. Tiếng khóc Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh cũng chính là tiếng khóc mà nhà thơ dành cho những số kiếp “tài hoa bạc mệnh” như nàng. Sức khái quát của lời thơ, tình yêu thương mênh mông Nguyễn Du dành cho những số kiếp ấy không chỉ dừng lại ở đó:

Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kì oan ngã tự cư.

Cổ kim hận sự là nỗi hờn về sự bất công của số phận. Nhà thơ nhận thức về quy luật tài hoa bạc mệnh, tài tử đa cùng, người có tài hoa, trí tuệ thì số phận long đong. Đó là nỗi bất công ngự trị từ xưa đến nay, là bi kịch đã được khái quát hoá, được đồng nhất. Mặt khác, chúng ta có thể nhận thấy từ cuộc đòi của một người con gái, nhà thơ muóno hỏi cho rõ nguyên nhân gây nên bi kịch nói chung của thời đại chứ không riêng của dân tộc, thân phận cụ thể nào. Đến đây, có thể cảm nhận rất rõ ràng: tiếng khóc của Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh Kí không chỉ hướng tới cuộc đời, số phận cụ thể là nàng Tiểu Thanh mà còn hướng tới tất cả những người tài hoa, phong nhã, không phân biệt nam hay nữ (những kẻ phong vận). Tiếng khóc ấy không chỉ chan chứa yêu thương mà còn rất chân thành, xúc động bởi lẽ tác giả đã tự đặt mình vào thế giới của những kẻ phong vận kia. Điều đó chứng tỏ người nghệ sĩ của chúng ta ý thức rất rõ về bản thân mình. Ông nhận mình cũng là người cùng hồi cùng thuyền với Tiểu Thanh: Tráng niên ngã diệc, vi tài tử(Thời trẻ ta cũng có tài). Không phải Nguyễn Du tự ngạo nhưng quả thật đúng như vậy. Số phận của Nguyễn Du, Tiểu Thanh đều bất hạnh như nhau. Tự nhận là người cùng hội cùng thuyền cũng có nghĩa là nhà thơ thừa nhận sự tri âm, đồng điệu giữa những con người tài hoa bạc mệnh. Vậy nên tiếng khóc của Nguyễn Du không phải là tiếng khóc của đấng tu mi nam tử đoái thương cho số phận đàn bà mà là tiếng khóc của người trong cuộc, của những người cùng một lứa bên trời lận đận(Long Thành cầm giả ca). Chưa ai trả lời cho Nguyễn Du được nguyên nhan của bi kịch đó đê rổi khóc cho người thiên cổ, nhà thơ đoái thương cho chính bản thân mình:

Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Từ hiện tại, Nguyễn Du khóc thương cho quá khứ, cho người trong quá khứa. Và bất chợt nhà thơ tự hỏi ba trăm năm sau sẽ ai khóc thương mình. Thương người, ngẫm bi kịch của người, khóc cho người rồi thương chính bản thân mình, điều đó cho thấy nhà thơ đã tự đặt mình vào số phận chung của những tấn bi kịch. Tiểu Thanh mệnh bạch nhưng ba trăm năm sau cũng có người cùng hội cùng thuyền là Nguyễn Du thương xót. Nỗi đau của náng đã được xoa dịu một chút nơi chín suối. Nhưng liệu răng điều đó có lặp lại với ông? Ba trăm năm chỉ là con số ước lệ. Tri âm, tri kỉ đâu cần đến ba trăm năm mới xuất hiện? Đọc thơ văn Nguyễn Du, cảm nhận sâu sắc tấm lòng vị tha, đa mang của nhà thơ trước cuộc đời, trước con người, bất cứ ai chẳng đồng điệu, chẳng muốn tri âm với ông. Câu hỏi của Nguyễn Du hướng tới tương lại chứ không đặt câu hỏi cho hiện tại, có thể vì ông không tìm thấy sự đồng cảm trong hiện tại. Đó là nỗi buồn sâu lắng về cuộc đời cũng là một triết lí về thuyết tài mệnh tương đố. Ông thương cho người xưa, thương cho chính mình và thương cho cả người sau phải khóc mình. Sẽ còn có những trái tim đa cảm như Nguyễn Du, sẽ còn những giọt nước mắt khóc cho những số phận cay đắng của người nghệ sĩ tài hoa mà mệnh bạc.

Độc Tiểu Thanh Kí là bài thơ xúc động. Người đọc được lắng nghe một tiếng khóc đầy đớn đau, nhức nhối, được chứng kiến một tấm lòng nhân đạo hết sức cao cả của người nghệ sĩ tài hoa đa truân. Nguyễn Du đâu chỉ khóc cho Tiểu Thanh, ông còn khóc cho bao số kiếp hồng nhan bạc mệnh, tài tử đa cùng như nàng, khóc cho quá khứ, hiện tại, tương lai, và khóc cho chính bản thân mình. Trái tim người nghệ sĩ đa cảm này dường như cả cuộc đời chỉ biết đập cho người khác vậy.

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
Đôi điều về bài thơ "Độc Tiểu Thanh Ký" trong sách giáo khoa lớp 10

Đôi điều về bài thơ "Độc Tiểu Thanh Ký" trong sách giáo khoa lớp 10

Đôi điều về bài thơ "Độc Tiểu Thanh Ký" trong sách giáo khoa lớp 10

Bài thơ "Độc Tiểu Thanh Ký" không xếp vào phần thơ đi sứ mà giữ trong tập "Thanh Hiên", ở phần "Làm quan ở Bắc Hà 1802-1804". Bản dịch (cả dịch nghĩa và dịch thơ) được chọn dạy cho học sinh trung học, in trong sách giáo khoa lớp X, tập I, là của Vũ Tam Tập, rút từ "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" (NXB Văn học, 1965).

Nguyễn Du để lại ba tập thơ chữ Hán: "Thanh Hiên tiền hậu tập", "Nam Trung tạp ngâm" và "Bắc hành tạp lục". Theo gia phả biết được tên ba tập sách. Nhưng các bài cụ thể cho đến giữa thế kỷ XX vẫn tản mát và chép lẫn lộn hoặc gộp chung vào một cuốn. Ở nhà cụ Nguyễn Mai, cháu xa Nguyễn Du, có được mấy chục bài. Vua Tự Đức cũng từng sai thu thập. Ông Đào Duy Anh từ trước năm 1945 có lẽ là người tìm được nhiều nhất (131 bài) mà theo nội dung thì là các bài từ cả ba tập thơ trên. Tập "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" (NXB Văn học, 1959) do các cụ Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh dựa vào cuốn "Thanh Hiên thi tập" lưu ở Vụ Bảo tồn bảo tàng, chọn dịch 102 bài trong số 126 bài (74 bài của Thanh Hiên, 6 bài của "Nam trung", 46 bài của "Bắc hành"). Các cụ sắp xếp thành ba phần theo ba chặng viết của Nguyễn Du: Chặng Lê mạt, chặng làm quan triều Nguyễn, chặng đi sứ Trung Quốc. Bài "Độc Tiểu Thanh ký" này xếp ở phần đầu chặng đi sứ. 

Cuốn "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" do các cụ Lê Thước, Trương Chính chủ trì biên soạn với sự tham gia của nhiều người (NXB Văn học, 1965) có 249 bài. Đây là lần đầu tiên thơ chữ Hán của Nguyễn Du được công bố nhiều nhất, được tìm hiểu xuất xứ và chú giải kỹ nhất. Bài "Độc Tiểu Thanh ký" được các soạn giả phát hiện: "bài này không phải làm khi nhà thơ đi qua mộ Tiểu Thanh, mà khi còn ở nhà" (trích "Lời giới thiệu" của Trương Chính). Bài thơ không xếp vào phần thơ đi sứ mà giữ trong tập "Thanh Hiên", ở phần "Làm quan ở Bắc Hà 1802-1804". Bản dịch (cả dịch nghĩa và dịch thơ) được chọn dạy cho học sinh trung học, in trong sách giáo khoa lớp X, tập I, là của Vũ Tam Tập, rút từ "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" (NXB Văn học, 1965). Tôi xin được dựa vào nguyên bản chữ Hán của Nguyễn Du, có tham khảo các bản dịch khác và xin được bàn luận về cách hiểu nghĩa và diễn thơ của Vũ Tam Tập.

Tây hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư


"Vườn hoa đẹp Tây hồ đã thành bãi hoang". Đây là Tây hồ của Hàng Châu, Trung Quốc. Câu thơ mở bài nói một đổi thay tàn tạ, nhưng không phải chỉ để gợi cảm khái chung chung, mà gắn với một địa danh cụ thể, Tây hồ. Tiểu Thanh, đời nhà Minh tài sắc, nhưng phải làm lẽ, bị vợ cả hành hạ. Tây hồ là nơi nàng bị người vợ cả ép sống đơn lẻ ở đây đến phải chết buồn năm 18 tuổi. Bài thơ mang giọng Nguyễn Du tâm sự với Tiểu Thanh: 

Trước cửa sổ (ta) đọc cuốn sách, viếng nàng. 

Cuốn sách ấy là cuốn "Ghi chép về cuộc đời Tiểu Thanh" (Tiểu Thanh ký). Trong đó tôi đoán có chép lại 12 bài thơ còn sót lại khi tập thơ mang tâm sự bị người vợ cả đem đốt. Nguyễn Du đọc đời nàng, xem thơ nàng và xót thương thân phận nàng, chính là một hành động phúng điếu.

Hai câu phá đề, thừa đề coi như đã nói xong tiểu sử Tiểu Thanh và nỗi lòng thương cảm của tác giả với nàng. Phần còn lại của bài thơ, tới sáu câu, chỉ còn là những chiêm nghiệm của Nguyễn Du về cuộc đời. Thân phận Tiểu Thanh làm ông chạnh nghĩ tới thân phận mình.

Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.


Tôi trích hai câu liền vì hai câu đối ý quấn quýt tạo nên một mạch cảm xúc. Nhưng chuyển sang tiếng Việt xin được xét từng câu. Câu thứ ba, bản dịch nghĩa của Vũ Tam Tập in trong sách giáo khoa:

Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết.
Văn chương không mệnh mà mang lụy cả lúc đã thành tro


Thơ chữ Hán thường nén chữ lại, phá vỡ kết cấu văn phạm thông thường, nên người đọc có thể hiểu theo nhiều cách. Riêng trong câu này ba chữ "liên tử hậu" (liên: thương; tử hậu: sau khi chết). Vũ Tam Tập chắc đã căn cứ theo tiểu sử Tiểu Thanh mà luận ra, bằng cách coi chủ từ của "thương" là hồn vía Tiểu Thanh. Và "sau khi chết" thì phải hiểu là "mọi việc xảy ra sau khi Tiểu Thanh chết", ở đây ám chỉ việc người vợ cả đốt những bài thơ của nàng. Cách hiểu này có lý, tuy lập luận có lấn hơi nhiều ra ngoài chữ nghĩa của câu thơ. Nhưng điều đáng nói là hiểu như thế ý thơ bị hẹp lại, tình cảm cũng mất đi vẻ trữ tình thế sự, chuyển thành một thứ thơ kể chuyện đời Tiểu Thanh bằng phẳng, nhạt và bị rời khỏi tư thế trí tuệ của bài thơ. 

Tôi xin được hiểu sát vào từng chữ của câu thơ "Son phấn có thần (nên vẫn gây tiếc) thương sau (khi đã) chết". Son phấn tượng trưng cho nhan sắc người phụ nữ. Câu thơ này là Nguyễn Du tự thấy giữa lòng mình: Tiểu Thanh sống vào triều Minh, khi Nguyễn Du đọc bài ký viết về nàng, Tiểu Thanh "tử hậu" đã tới ba trăm năm, vậy mà khi biết chuyện đời Tiểu Thanh, Nguyễn Du vẫn xót xa: Son phấn (tài sắc người phụ nữ) có thần gây xót thương cho người ta cả sau khi đã chết! Một chiêm nghiệm thế sự nói chung (với "Truyện Kiều" cũng tương tự) chứ không phải một ước đoán tâm lý (chắc phải) cho riêng trường hợp Tiểu Thanh như câu dịch nghĩa của Vũ Tam Tập. Ý thơ này còn là tiền đề cho ý thơ kết: "Ta, sau ba trăm năm nàng mất, nhỏ lệ thương nàng, không biết ba trăm năm nữa (tử hậu của ta) có ai còn nhỏ lệ khóc ta không!". "Tử hậu" chiếu xuống "dư niên hậu" cho thấy nỗi tủi thân thấm thía của người tài tử Nguyễn Du. Cũng không nên coi đây là tài tung hứng trên dưới của bút pháp Nguyễn Du mà nên hiểu đây là mạch cảm xúc chính của bài thơ này. Thấy người mà ngẫm đến ta, rất lôgic. Hiểu như Vũ Tam Tập thì câu thơ chỉ còn dính với riêng tiểu sử Tiểu Thanh và bong khỏi nghĩa lý toàn bài.

Câu sau, tức câu thứ tư của bài, Vũ Tam Tập dịch nghĩa: 

Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở.

Câu này dịch thế e mất ý. Mất chữ "lụy", vốn là nhãn tự của câu, nó ăn với chữ "liên" ở câu trên. Và cứ trong nghĩa câu dịch này mà hiểu thì hơi văn lại hóa ngô nghê: "Văn chương không có số mệnh… mà cũng bị đốt dở!". Thế nghĩa là nó đáng phải được đốt cháy cho bằng hết(!). Câu thơ này gây hiểu lầm cũng ở ba chữ cuối "lụy" (gây khó) "phần" (đốt) "dư" (còn lại). "Lụy" cho đến cả phần "còn lại sau khi đốt" (lụy cho tác giả) hay "phần còn lại sau khi đốt" còn đủ sức gây bận lòng người (lụy cho độc giả)? Cả hai cách hiểu đều có lý và không mâu thuẫn. Người sau khi chết vẫn gây thương và thơ còn sót sau khi cháy vẫn gây khắc khoải (lụy) cho người đời. Chính Nguyễn Du đang thể nghiệm cái mối lụy ấy khi đọc bài ký về Tiểu Thanh. Bản dịch của Thảo Phương, trong "Đọc và dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du" (NXB Văn học, 2007), câu này chuyển ngữ là: "Lụy đến tàn tro, hỡi phú thơ!" thì mối lụy đứng giữa độc giả và tác giả. Còn mối lụy ám vào tác giả: Văn chương vô mệnh, nó không như người, không là sinh linh, chỉ là chữ trên giấy, mà đã mang đốt đi, thành tro rồi, vẫn còn để lụy cho người viết ra nó. Cái "lụy" ấy đủ mạnh để cân với sức nặng của chữ "thương" ở câu trên (thương người thương sang cả cõi ma). "Lụy, đến tàn tro còn gây lụy"… Đây cũng là một chiêm nghiệm phổ biến của giới chữ nghĩa. Cái lụy văn chương xưa nay nhiều lắm. Nguyễn Du hẳn biết nhiều những "ngục văn tự" của tiền nhân. Và trong đời chắc hẳn chính ông cũng nhiều phen nghe lạnh sống lưng. Ấy là chưa kể đời sau, ông "con giời" Tự Đức đọc đến câu Kiều "Dọc ngang nào biết trên đầu có ai" còn muốn nọc Nguyễn Du ra đánh trăm trượng nữa kia. Có bất ngờ chăng là cái lụy ấy lại rơi vào thân phận một cô gái làm lẽ tội nghiệp, văn chương rất nghiệp dư này. Cái nỗi hận ấy của Tiểu Thanh, mà nào có riêng Tiểu Thanh, Nguyễn Du từng chứng kiến bao oán hận khi Gia Long trả thù Tây Sơn: hành hình người sống, bật mồ người chết, rồi đốt xóa đục đẽo bằng hết mọi văn tự có dính dáng đến Tây Sơn… Oán hận ngút trời! "Cổ kim hận sự thiên nan vấn". Cái nỗi hận xưa có, nay cũng có ấy, có ngửa mặt kêu trời mà hỏi, trời cũng bất lực, vô phương: "thiên nan vấn". Nguyễn Du ý thức được đấy là chỗ bế tắc của đời. Và ngay câu sau đó, ông ý thức phận mình: "phong vận kỳ oan ngã tự cư": phận ông cũng đã ở sẵn trong khối oan khiên ấy. "Ngã tự cư": ta đã ở đấy rồi. Đấy là niềm bi phẫn hay nỗi yếm thế của Nguyễn Du? Chắc cả hai. Trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, cái chữ "tự" này sao nhiều phen bi thiết: "Nhân tự bi thê, thảo tự thanh" (người tự buồn thương, cỏ tự xanh) xanh là bản tính của cỏ, bản tính của người lại là buồn thương ư! Cái chất tâm hồn Nguyễn Du như thế, nên mới vừa chạm đến thân phận Tiểu Thanh, ông đã trùng điệp nỗi mình, dẫn đến câu kết như một di chúc, một câu hỏi cực thân hỏi vào hậu thế:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khốc Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Thiên hạ ai người khóc Tố Như
)


Bốn câu cuối bài thơ, bản dịch Vũ Tam Tập đã hoàn hảo cả tình cả ý. Và bài "Độc Tiểu Thanh ký" này đã là một chìa khóa giúp ta mở vào nỗi lòng Nguyễn Du.

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net
Đọc tiếp >>
no image

Tài liệu và hướng nghiên cứu bài " Độc tiểu thanh kí "

Bài Độc Tiểu Thanh kí được dịch và in bằng chữ quốc ngữ khá sớm(1), nhưng phải đợi đến khi soạn giả sách giáo khoa đưa vào Văn 10(2) thì giới nghiên cứu mới thực sự chú ý tới và tạo thành cuộc tranh luận khá sôi nổi, kéo dài ngót 5 năm, sau đấy tạm lắng xuống và cho tới nay vẫn còn nhiều điều cần bàn, nhất là những vấn đề về tư liệu và hướng nghiên cứu. Đấy cũng là mục đích của bài viết này.
Có lẽ người đầu tiên châm ngòi cho cuộc tranh luận bài Độc Tiểu Thanh kí là Ts. Nguyễn Danh Đạt. Ông cho rằng, bản dịch nghĩa và dịch thơ bài Độc Tiểu Thanh kí in trong Văn 10 “là chưa ổn”(3) và đưa ra cách dịch mới của mình. Chủ biên Văn 10 - GS. Nguyễn Đình Chú trả lời. Theo Giáo sư, muốn dịch một cách chính xác bài thơ, phải hiểu đúng hoàn cảnh ra đời của tác phẩm và nguyên nhân dẫn đến cách hiểu khác nhau “là do hiểu về hoàn cảnh sáng tác bài thơ khác nhau”(4). Trên cơ sở định hướng đó, Giáo sư khẳng định: Bài Độc Tiểu Thanh kí được viết khi Nguyễn Du còn ở nhà chưa đi sứ. Tiếp theo, các học giả Trần Đình Sử, Đào Thái Tôn, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Khắc Phi... lần lượt viết bài trao đổi. Để trình bày cách hiểu nội dung bài thơ, trong trao đổi, các vị đi theo hai hướng:

Một là, xác định thời điểm ra đời bài Độc Tiểu Thanh kí.

Hai là, truy tìm tư liệu liên quan tới Tiểu Thanh.

Về thời điểm bài thơ ra đời, các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận ngược chiều nhau. Một số tán thành ý kiến của các cụ Bùi Kỉ, Đào Duy Anh... trước đây; cho rằng, Độc Tiểu Thanh kí được viết vào thời kì Nguyễn Du đi sứ Trung Hoa như Nguyễn Danh Đạt, Trần Đình Sử(5)… Số khác chẳng hạn Nguyễn Lộc, Nguyễn Đình Chú... thì đồng tình với Trương Chính: Độc Tiểu Thanh kí “không phải làm khi nhà thơ đi qua mộ Tiểu Thanh ở Hàng Châu, mà làm khi còn ở nhà”(6). Mỗi người đều đưa ra lí lẽ của mình và lí lẽ nào cũng có sức thuyết phục riêng. Tuy vậy, cũng có người muốn dung hòa rằng, “có thể Nguyễn Du đã viết bài thơ này trong thời kì đi sứ”(7).

Hướng truy tìm tư liệu về Tiểu Thanh, gồm Nguyễn Quảng Tuân, Trần Đình Sử, Nguyễn khắc Phi... Các ông đã lần lượt công bố Tiểu Thanh truyện trong thư tịch cổ Trung Hoa như Nữ Liêu trai chí dị(8), Ngu Sơ tân chí(9), Tình sử(10). Tuy nhiên, các ông mới tìm thấy Tiểu Thanh truyện. Thế thì, có cái gọi là Tiểu Thanh kí không? Hoặc giả, Tiểu Thanh kí là Tiểu Thanh truyện như có nhà nghiên cứu đã phỏng đoán?

Để giải quyết những vấn đề trên, chúng tôi nghĩ, trước hết cần biết Tiểu Thanh là ai; sau nữa phải truy tìm những tư liệu viết về Tiểu Thanh có liên quan đến các câu thơ Nguyễn Du. Những tư liệu tìm được sẽ cho ta lời giải đáp.

Bây giờ xin lần lượt trình bày từng vấn đề theo tư liệu chúng tôi đã có.

I/ Tam bách dư niên


1. Để tìm ẩn số 300 năm, vấn đề đầu tiên cần biết: Tiểu Thanh là ai?

Nói chung, trong các thư tịch của mình, người Trung Hoa viết về Tiểu Thanh khá thống nhất. Chỉ có điều, họ chưa thật nhất trí trong việc, nên xếp Tiểu Thanh theo họ hay theo tên trong từ điển. Chẳng hạn, cùng một bộ Từ Hải nhưng sách do Trung Hoa Thư cục xuất bản thì xếp Tiểu Thanh vào từ mục “Tiểu Thanh”, tra chữ tiểu [?] 3 nét; còn sách do Thượng Hải Từ thư xã xuất bản lại đặt vào từ mục “Phùng Tiểu Thanh”, tra chữ phùng [?] 12 nét. Lấy chữ “Phùng” hay chữ “Tiểu” làm đầu mục từ, đều thể hiện quan điểm về phụ nữ của các soạn giả. Khi tôn trọng ai đó, người Trung Hoa thường dùng họ để gọi, khi bình thường thì chỉ gọi tên là đủ. Vì lẽ đó, cuốn từ điển do Thượng Hải Từ thư xã in năm 1989, các soạn giả lấy chữ “Phùng” làm đầu mục từ để tra. Bởi không lưu ý tới đặc điểm này nên, khi tra “Tiểu” trong từ mục “Tiểu Thanh” ở Từ Hải của Thượng Hải Từ thư xã không thấy, có nhà nghiên cứu đã hốt hoảng thốt lên rằng khi tái bản, “cuốn Từ Hải mới (Thượng Hải Từ thư xuất bản xã, Thượng Hải, 1989) mục “Tiểu Thanh” đã bị lược bỏ”(11). Thực ra, họ đâu có “lược bỏ”! Chỉ tại, sách thì lấy tên, sách thì dùng họ làm đầu mục cho từ điển mà thôi.

Về cuộc đời Phùng Tiểu Thanh, thoạt đọc, ta cũng thấy hiện tượng dường như mâu thuẫn. Chẳng hạn, Trung Hoa Thư cục ghi, Tiểu Thanh là “tên người con gái ở Giang Đô, thời Minh... giỏi thơ từ, biết âm luật. Bởi vợ cả không dung, dời đến ở nhà riêng tại Cô Sơn; có người bà con là Dương phu nhân thương xót, nói bóng gió khuyên đi lấy chồng khác nhưng không nghe, buồn đau thành bệnh; sai họa sư vẽ ảnh mình, tự tế rồi chết, năm chỉ mới 18 tuổi; chôn ở Cô Sơn, Tây Hồ. Có người họ hàng thu thập thơ từ của nàng, khắc in thành Phần dư cảo. Vở tạp kịch Xuân ba ảnh của Từ Hối thời Minh là lấy từ câu chuyện về Tiểu Thanh mà phổ ra”(12). Thượng Hải Từ thư xã lại viết: Phùng Tiểu Thanh là “nhân vật trong truyện văn học. Tương truyền, nhà ở Dương Châu, giỏi thơ, tài họa. Năm 16 tuổi lấy con trai họ Phùng làm thiếp. Bị người vợ cả ghen tuông, đưa ra an trí tại Phật Xá, Cô Sơn do một ni cô cai quản, tinh thần đau khổ, uất ức mà chết. Vở kịch truyền kì Liệu đố canh của Ngô Bính thời Minh đã lấy sự kiện này làm đề tài”(13). Tuy viết có vẻ khác nhau như vậy, nhưng thực ra, họ đâu có mâu thuẫn. Chỉ vì, Trung Hoa Thư cục dựa vào cuộc đời thực của Tiểu Thanh để biên soạn, còn Thượng Hải Từ thư xã lại dựa vào tác phẩm văn học để viết về Tiểu Thanh. Ngay cả thời điểm Tiểu Thanh sống, họ viết cũng có vẻ khác nhau, song thực chất vẫn thống nhất. Chẳng hạn, Từ Hải nói, Tiểu Thanh người thời Minh; Từ Nguyên bản in năm 1988 bảo người thời Minh Mạt; còn Từ nguyên bản in năm 1938 và Trung Quốc nhân danh đại từ điển lại viết, nàng người thời Thanh Sơ... Bảo Tiểu Thanh người thời Minh, thời Minh Mạt hoặc Thanh Sơ đều đúng cả, vì mỗi sách lấy từ một nguồn khác nhau. Hơn nữa, trong văn chương, người viết thường dùng con số ước lượng.

2. Liên quan đến Tiểu Thanh là ai, có vấn đề mộ Tiểu Thanh.

Về mộ Tiểu Thanh thì, 3 trong 5 bộ từ điển là Từ nguyên (bản in năm 1938 và năm 1988) và Trung Quốc nhân danh đại từ điển đều khẳng định: Nay ở Cô Sơn, Tây Hồ có mộ Tiểu Thanh. Trong ba tư liệu trên, đáng chú ý nhất vẫn là Trung Quốc nhân danh đại từ điển, một loại sách công cụ chỉ dẫn tên người Trung Hoa có thật, đã thừa nhận: “nay ở Cô Sơn Tây Hồ Hàng Châu có mộ Tiểu Thanh”.

Vậy, hiện nay ở Cô Sơn, Tây Hồ có mộ Tiểu Thanh không? Rất may là, gần đây trên một trang Web của mạng Dương Châu (Trung Hoa), mục Dương Châu mĩ nữ (năm 2004) có đưa tin về Tiểu Thanh và hai bức ảnh: mộ Tiểu Thanh (ảnh này cách đây hơn 70 năm, Phan Quang Đán cũng đã công bố(14)) và ảnh màu cảnh Cô Sơn bên hồ Tây Tử. Nhấn mạnh vấn đề này, chúng tôi không nhằm mục đích khẳng định hoặc phủ định Tiểu Thanh là người có thật hay không có thật. Chỉ biết, Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh kí và người Trung Hoa có ảnh mộ Tiểu Thanh. Vấn đề chúng ta cần là thời điểm Tiểu Thanh hiện diện trên đời vì liên quan tới câu “tam bách dư niên” trong thơ của Nguyễn Du.

Thực ra, vấn đề Phùng Tiểu Thanh diễn ra tương tự hiện tượng Vương Thúy Kiều. Thoạt đầu, nàng là người có thật, sau đấy, các văn nhân tài sĩ đua nhau tiểu thuyết hóa để thành các câu chuyện khác nhau.

3. Thời điểm Tiểu Thanh hiện diện trên thế gian này.

Có lẽ do mới tìm thấy Tiểu Thanh truyện, nên chúng ta lúng túng khi lí giải thời gian hơn 300 năm. Tính từ bao giờ để đến Nguyễn Du (1765-1820) được 300 năm? Ngu Sơ tân chí thì nói, Tiểu Thanh mất năm Nhâm Tí niên hiệu Vạn Lịch 1612. Xin lưu ý, chỉ có sách Ngu Sơ tân chí nói thời điểm Tiểu Thanh qua đời, các tài liệu khác như Tình sử, Nữ Liêu trai chí dị và một số tài liệu chúng tôi mới sưu tầm không đề cập tới vấn đề này. Dù tính toán bằng cách nào thì, từ năm Tiểu Thanh mất (theo Ngu Sơ tân chí) 1612, hoặc năm Tiểu Thanh sinh 1595 đến thời điểm Nguyễn Du ra đời 1765, hoặc Nguyễn Du đi sứ 1813, thậm chí tới lúc Nguyễn Du mất 1820 cũng chỉ được 225 năm (1820 – 1595 = 225) huống chi lại “hơn 300 năm”! Song, tài liệu Dương Châu mĩ nữ sẽ giúp ta giải đáp phần nào nghi vấn này.

Để giới thiệu các mĩ nữ nổi tiếng thời Minh của Trung Hoa, trong mục “Bi kịch thảm thương của Phùng Tiểu Thanh - đại diện cho các cô gái đẹp ở Dương Châu” địa chỉ www.yzmn.cn, tác giả viết: “Bên Tây Hồ ở Hàng Châu có hai ngôi mộ mĩ nhân thường khiến du khách phải buồn đau than thở. Thứ nhất là ngôi mộ cô đơn của Tô Tiểu Tiểu, một thi sĩ - danh kĩ nổi tiếng thời Nam Tề(15), nằm tại bờ tây Lãnh Kiều; ngôi thứ hai là mộ Phùng Tiểu Thanh, một oán nữ thời Minh Sơ, nằm yên tĩnh đã lâu trong khu rừng mai dưới chân núi Cô Sơn. Hai ngôi mộ cô quạnh cỏ xanh phủ kín khiến cho bờ hồ Tây Tử tăng thêm vẻ đẹp đượm buồn. Người tới đây tưởng niệm, không khỏi hồi tưởng đến câu chuyện thê lương của hai giai nhân bạc mệnh”.

Đoạn văn trên nói rõ, Tiểu Thanh sống thời Minh Sơ, mộ hiện ở Tây Hồ. Chẳng những thế, tác giả còn kể tỉ mỉ thân phận nàng:

“Phùng Tiểu Thanh vốn là con gái nhà thế gia ở Quảng Lăng. Trước đây, vị tổ của nàng từng theo Chu Nguyên Chương nam chinh bắc phạt, có công trong việc dựng nên giang sơn nhà Đại Minh. Sau khi nhà Minh định đô ở Nam Kinh, gia tộc họ Phùng được hưởng quan cao, lộc hậu. Đến đời phụ thân Phùng Tiểu Thanh, ông được thụ phong làm Thái thú Quảng Lăng.

Thuở ấu thơ, Phùng Tiểu Thanh sống trong phủ Thái thú ở Quảng Lăng. Đó là những ngày có thể nói rằng, vàng son chói lọi, áo gấm xênh xang, kẻ hầu người hạ tấp nập. Từ nhỏ, Phùng Tiểu Thanh đã xinh đẹp đoan trang, thông minh linh lợi, rất được yêu chiều”.

Về gia thế thân mẫu Phùng Tiểu Thanh, tác giả kể: “Mẹ nàng cũng là một khuê tú, xuất thân từ gia đình đại gia, giỏi văn chương, thạo đàn phách và chỉ có một cô con gái cưng như báu vật là Phùng Tiểu Thanh. Từ nhỏ, Tiểu Thanh đã được gia đình quan tâm dậy dỗ, mong sau này trở thành tiểu thư tài mạo xuất chúng”.

Thời thơ ấu của Tiểu Thanh như vậy. Nhưng rồi, một biến cố trọng đại bất ngờ ập xuống gia đình nàng. Tác giả kể tiếp: “Nhưng ai hay, trời có gió mây bất trắc; người có phúc họa khôn lường. Năm Kiến Văn thứ tư, Yên vương Chu Đệ mượn danh nghĩa “dẹp nạn” đã đoạt lấy ngôi vua của Kiến Văn đế. Khi Chu Đệ tiến quân vào Nam Kinh, thân phụ Phùng Tiểu Thanh bấy giờ đang là bề tôi của Kiến Văn đế nên đem quân cương quyết chặn lại. Sau khi Chu Đệ lấy được thiên hạ, Phùng gia tự nhiên trở thành ma không đầu dưới lưỡi dao của vị vua mới này và bị giết cả nhà. Lúc đó Phùng Tiểu Thanh vừa tuổi cập kê, lại đúng dịp đang theo một người bà con là Dương phu nhân ở nơi xa, nên may mà thoát nạn. Trong cảnh hỗn loạn ấy, nàng theo Dương phu nhân chạy đến Hàng Châu”.

Kiến Văn là niên hiệu của Chu Huệ đế nhà Minh, lên ngôi năm Kỉ Mão 1399. Như vậy, năm thứ tư sẽ là năm Nhâm Ngọ 1402. Vào thời điểm ấy, Tiểu Thanh đang tuổi cập kê, nghĩa là 14 hoặc 15 tuổi. Nàng mất ở tuổi 18, nghĩa là ba bốn năm sau, khoảng 1405-1406. Nếu tính từ 1405-1406 đến năm Nguyễn Du ra đời 1765 thì sấp sỉ 360 niên, còn tính đến năm vua Gia Long lên ngôi 1802 thì phải hai 3 năm nữa mới đủ 400 năm và nếu tính đến năm Nguyễn Du đi sứ 1813 thì đã 407-408 năm. Điều này có lẽ cho thấy, Nguyễn Du viết Độc Tiểu Thanh kí trước khi vua Nguyễn Gia Long lên ngôi, thậm chí viết rất sớm, trước khi Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc năm 1786. Có điều rất lạ là, khi biên soạn Thơ chữ Hán Nguyễn Du, chẳng hẹn mà nên, cả hai nhà khoa học, ông Trương Chính và Đào Duy Anh đều khẳng định, Tiểu Thanh “sống vào đầu đời Minh”(16), đúng với tài liệu Dương Châu mĩ nữ. Hoặc giả, hai ông Trương - Đào đã được đọc tài liệu mà sau này mạng Dương Châu công bố chăng? Tiếc rằng, hai ông và cả tác giả Dương Châu mĩ nữ không cho biết xuất xứ tư liệu các vị đã dùng. Dựa vào tài liệu mạng Dương Châu mới công bố gần đây và chú thích của hai ông Trương - Đào, ta có thể coi như bước đầu đã giải quyết xong câu “bất tri tam bách dư niên hậu” và cũng có thể coi như giải đáp một phần vấn đề thời điểm Nguyễn Du viết Độc Tiểu Thanh kí. Tuy nhiên, theo chúng tôi, cũng không nên chỉ hiểu “tam bách dư niên” là thời điểm tính từ Tiểu Thanh qua đời đến Nguyễn Du đọc Tiểu Thanh kí. Ngoài nghĩa chủ yếu ấy ra, có lẽ Nguyễn Du còn muốn đề cập tới nghĩa thứ hai: chu kì vòng đời của một con người. Xin đưa ra để tham khảo thêm.

Cổ nhân cho rằng, giới hạn đời người là trăm năm. Vì vậy, khái số “trăm năm” được dùng để tính một kiếp. Triết học phương Đông cổ đại lại quan niệm, vòng đời con người gồm 3 kiếp (cũng gọi là “tam sinh” hoặc “tam thế”). Bởi vậy, “tam bách niên” cũng đồng nghĩa với một vòng đời. Sau khi hết một vòng đời 300 năm của mình, biết hậu thế có ai khóc Tố Như? Đấy có thể là ý nghĩa thứ hai của câu thơ: Bất tri tam bách dư niên hậu… Vả chăng, trong văn học, người trung đại thường dùng con số theo kiểu ước lượng, chứ không làm phép tính cộng trừ chuẩn xác như chúng ta ngày nay.

4. Nguyễn Du viết Độc Tiểu Thanh kí ở Việt Nam hay trên đường đi sứ năm 1813?

GS. Trần Đình Sử có lí khi đặt câu hỏi: “Nếu bài thơ viết trước khi đi sứ, thì sao biết được Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang?”(17).

Để giải đáp câu hỏi của GS. Trần, xin cung cấp một tư liệu khác: Tây Hồ giai thoại cổ kim di tích (gọi tắt là Tây Hồ giai thoại) của Cổ Ngô Mặc lãng tử [?]; tác phẩm ra đời vào thời Thanh với lời tự đề Tựa cho bản in ghi năm Quý Sửu niên hiệu Khang Hi 1673 của chính tác giả. Chúng tôi xin chỉ đề cập ở đây những gì trong tác phẩm này liên quan tới Độc Tiểu Thanh kí.

Sách in, khổ 17,8 cm x 11,5 cm. Bìa gồm ba cột dọc, đọc từ trên xuống. Cột giữa in 4 chữ cỡ lớn: Tây Hồ giai thoại; cột bên phải, 6 chữ nhỏ: Tinh hội thiết sắc toàn đồ; cột bên trái, cũng 6 chữ cỡ nhỏ: Kim Lăng Vương nha tàng bản. Nội dung của sách gồm:

a - Bài Tựa do chính tác giả tự đề, lạc khoản ghi: “Khang Hi tuế tại Chiêu dương Xích phấn nhược, Mạnh xuân Trâu nguyệt, Vọng nhật, Cổ Ngô Mặc lãng tử đề”. Ngày rằm tháng Giêng năm Quý Sửu niên hiệu Khang Hi là năm 1673. Tại trang này có hai dấu triện vuông. Dấu trên khắc ba chữ: “Mặc lãng tử”; dấu dưới bốn chữ: “Tây Hồ đắc nhân”.

b - Cấu trúc của sách: Sách gồm 2 phần.

* Phần đầu : một quyển với tên gọi Quyển đầu, có:

+ Bài Tựa của Cổ Ngô Mặc lãng tử;
+ Mục lục về 10 cảnh đẹp Tây Hồ là:

Buổi sớm trên đê Tô Thức, Hương sen ở Khúc Viện, Nghe tiếng chim oanh hót ở Liễu Lãng, Xem đánh cá ở Hoa Cảng, Tiếng chuông buổi sáng ở Nam Bình, Sắc thu ở Bình Hồ, Lưỡng Phong cao chạm mây, Trăng in bóng ở Tam Đàm, Chiều tà chiếu tháp Lôi Phong, Tuyết cuối mùa ở Đoạn Kiều.

+ Tranh vẽ và thơ: 2 bức Tây Hồ toàn đồ và 10 bức tranh ứng với 10 mục kể trên.

Bên mỗi bức Tây Hồ giai cảnh đều có một bài thơ, soạn giả ghi rõ, ai vẽ, đề thơ của ai.

* Phần hai: 16 quyển viết về danh nhân Trung Hoa là: Cát Hồng, Bạch Lạc Thiên, Tô Thức, Lạc Tân Vương, Lâm Hòa Tĩnh, Tô Tiểu Tiểu, Nhạc Phi và Tần Cối, Vu Khiêm, Lâm Đạo Tế, Biện Tài, Văn Thế Cao, Tiền Lưu, Viên Trạch và Lí Nguyên, Phùng Tiểu Thanh, Bạch Xà nương và Hứa Xương, pháp sư Liên Trì.

Trong bài Tựa, chúng tôi đặc biệt chú ý tới đoạn kết. Cổ Ngô Mặc lãng tử khẳng định: “Ngày nay và mai sau, có ai hâm mộ hồ Tây Tử mà không được tận mắt nhìn, thì mở bức họa đồ này ra, xem qua một lượt là dường như có thể như đang ngoạ du trên hồ Tây Tử vậy”. Thế thì, nếu Nguyễn Du đã đọc Tây Hồ giai thoại, đã mở xem 12 bức vẽ về Tây Hồ trong sách, có lẽ ông chẳng cần đến tận Tây Tử mới biết “Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư”! Hơn nữa, đa phần các thiên trong Tây Hồ giai thoại thường được kết cấu theo kiểu: Mở đầu bằng cảnh Tây Hồ tươi đẹp tràn đầy sức sống và hấp dẫn con người, nhưng khép lại bằng cảnh nhân vật chết, hoặc chết bi phẫn như Nhạc Phi, hoặc chết uất hận như Tiểu Thanh, Tô Tiểu Tiểu…; hoặc sau khi nhân vật chết rồi, chỉ còn lại di tích một ngôi mộ hoang, một ngôi nhà quạnh vắng thê lương, một khu vườn trống… như các thiên Cát Lĩnh tiên tích, Bạch Đê chính tích, Linh ẩn thi tích, Tây Lãnh vận tích, Nhạc phần trung tích… Và, chữ khư [?] đâu chỉ có một nghĩa là “gò hoang”? Khư ít nhất 7 nghĩa, trong đó có nghĩa là “nền hoang”, “hoang phế”... Cho nên, ta có thể hiểu “Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư” như các dịch giả của cả ba công trình Thơ chữ Hán Nguyễn Du: “vườn hoa bên hồ Tây đã thành bãi hoang rồi” (trang 96 bản Bùi Kỉ…, năm 1959; trang 162 bản Lê Thước, năm 1965; trang 173 bản Đào Duy Anh năm 1978). Ngoài ra, thiên số 7 trong Tây Hồ giai thoại: Nhạc phần trung tích viết về Nhạc Phi và Tần Cối còn giúp thêm tư liệu khẳng định thời điểm ra đời bài Độc Tiểu Thanh kí. GS. Nguyễn Đình Chú rất tinh tế khi nhận xét: “Nhạc Vũ Mục mộ là viết về mộ của Nhạc Phi ở Hàng Châu (thuộc tỉnh Chiết Giang) thì xem ra lại không đến mà viết”(18). Đúng vậy! Tây Hồ giai thoại đã chứng thực điều đó.
Vậy là, về cơ bản, ta đã giải quyết xong câu đầu Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư và 2 câu kết Bất tri tam bách dư niên hậu - Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. 
II/ Cổ kim hận sự… Phong vận kì oan…

“Hận sự” ở đây là gì? Tiểu Thanh bị oan tới mức nào khiến Nguyễn Du gọi là “kì oan”? “Phong vận kì oan…” đi liền với “cổ kim hận sự…” thành một cặp, không thể tách rời. Tình sử, Ngu Sơ(19) tân chí và kể cả Nữ Liêu trai chí dị chưa phản ánh được cái gọi là “hận sự” và “kì oan” của Tiểu Thanh. Nhưng thiên 14 Di tích về nỗi hận ở gò mai trong Tây Hồ giai thoại đã chỉ rõ điều này.

Sau khi kể xong cuộc đời Phùng Tiểu Thanh, Cổ Ngô Mặc lãng tử kết luận: “Kẻ có lòng liên tài, phần lớn coi việc Tiểu Thanh buồn uất mà chết là nỗi hận. Ta thì không nghĩ vậy. Giá như Phùng sinh không sợ tên đố phụ kia và vợ Phùng sinh không đố kị Tiểu Thanh, thì chẳng qua Tiểu Thanh chỉ là kẻ thê thiếp tham ân trộm ái, nhận sự sủng phúc tầm thường, dù tên tuổi có mĩ miều thì trong khoảnh khắc cũng tan biến, sao có thể trăm năm sau vẫn khiến văn nhân tài sĩ, mỗi khi qua ngôi nhà riêng ở Cô Sơn, điếu tưởng ánh tịch dương rực rỡ nơi núi chiều, nhớ tới Tiểu Thanh phong lưu như đang còn?

Than ôi! Điều mà trời kia không nhất thời thành tựu cho Tiểu Thanh lại chính là để thành tựu cho nàng ngàn năm! Sao lại có hận?”.

Đấy là cách nói của Mặc lãng tử. Nếu không coi cuộc đời của Tiểu Thanh là một nỗi hận lớn, hà cớ tác giả lại đặt nhan đề Mai tự hận tích – (Di tích về nỗi hận ở gò mai) cho câu chuyện về Tiểu Thanh, mà không đặt Tiểu Thanh truyện như Trương Triều trong Ngu Sơ tân chí, như Phùng Mộng Long trong Tình sử ? Hơn nữa, mở đầu câu chuyện, Mặc lãng tử còn đặt câu hỏi: “Tây Hồ là đất ăn chơi. Hoa đua cười, chim tìm bạn. Xuân qua, thu lại, bốn mùa đều làm người ta vui vẻ. Vậy sao lại có nỗi hận?”. Từ nhan đề, đến phần mở đầu, phần kết thúc câu chuyện, Mặc lãng tử đều tập trung vào một chữ hận. Chữ hận được khắc sâu bởi một kì oan. Nỗi kì oan của Tiểu Thanh bắt đầu xẩy ra năm nàng 16 tuổi khi cùng Phùng sinh kết duyên. Phùng sinh là đầu mối mọi nỗi oan nghiệt của Tiểu Thanh và chính nàng cũng gọi chàng là “oan nghiệp phu”.

Mặc lãng tử kể: “Phùng sinh là một công tử giầu có ở Tây Hồ. Tính chàng hám sắc, nhưng bị người vợ hay ghen giàng giữ, nên chẳng thể ho he gì được. Về sau, nhờ nhiều lần khẩn cầu thống thiết, vợ chấp nhận cho cưới thiếp, nhưng không cho lấy người ở gần, vì sợ những kẻ đó có quan hệ bất chính với chàng từ trước; lệnh phải lấy ở nơi xa, tận Duy Dương và hẹn vừa đi vừa về chỉ trong vòng nửa tháng, nếu quá hạn sẽ không cho người thiếp kia bước chân vào cửa. ý của cô ta là, do thời hạn gấp gáp chắc gì chàng tìm được người; mà nếu tìm được chăng nữa, vị tất có người đẹp”. Hơn nữa, cô còn nghĩ: “con gái Duy Dương phần nhiều bị các trưởng quan lấy hết rồi; nếu còn, thì cũng chỉ là loại thê thiếp tầm thường”. Nhưng cô biết đâu, số trời đã định, chồng cô lại gặp mĩ nữ Phùng Tiểu Thanh sắc tài toàn vẹn. Khi Tiểu Thanh xuất hiện, dù nàng “đã phải cúi đầu hạ dọng cung kính không dám lộ một chút phong lưu, vậy mà phong thái kiều diễm tự nhiên của Tiểu Thanh càng giấu, lại càng rực rỡ” khiến lòng đố kị của vợ Phùng trở nên uất kết. Cô ta “thấy Tiểu Thanh hạ mình, càng ngờ rằng, nàng có thâm ý gì, nên luôn luôn theo sát, không để cho chồng có thể cười nói riêng với nàng một lời”. Để ra oai, trước tiên cô thu vứt hết son phấn do Tiểu Thanh mang về, rồi đốt sạch sách vở Tiểu Thanh đem theo, sau đó cấm cố nàng trong phòng, không cho giao thiệp với bất cứ một ai dù chỉ nửa lời. Kể tới đây, Mặc lãng tử đã mỉa mai: “Đúng là cái gọi, “yêu thương bánh vẽ, tình lang trong tranh”! Đến như muốn làm Ngưu Lang - Chức Nữ mỗi năm gặp nhau một lần cũng không thể”.

Đây mới là khúc dạo đầu cho bản trường hận ca Phùng Tiểu Thanh. Những chi tiết chúng tôi vừa nêu trên đều không có trong Tình sử và trong Ngu Sơ tân chí.

Một lần, vợ Phùng sinh đi dâng hương tại chùa Thiên Trúc, sợ Tiểu Thanh ở nhà sẽ lén lút gặp chồng nên bắt cô đi theo. Lúc về tới nhà, hai người gặp Phùng sinh đang đợi trong phòng. Trông thấy chồng, Tiểu Thanh e ngại tránh mặt. Ta hãy xem vợ Phùng sinh phản ứng ra sao? Cô lên dọng phán: “Đây là nhà của ta, không phải nơi để ngươi tránh mặt; đây là phòng ở của ta, lại cũng chẳng phải nơi để ngươi có mặt. Có mặt hay tránh mặt đều không thể”. Chi tiết này cũng không có trong Tình sử và trong Ngu Sơ tân chí. Sau đó, cô đưa Tiểu Thanh đến ngôi nhà riêng tại gò mai núi Cô Sơn cho ở một mình và lệnh: “Ta có ba điều pháp quy ngươi phải tuân thủ là: chưa có lệnh ta mà chàng đến, không được gặp mặt; chưa được lệnh ta mà có thư từ chàng gửi đến, không được mở xem; ngươi có viết thư từ, phải đưa ta đọc, không được tự ý thư từ với người khác. Nếu có chút gì sai phạm, quyết chẳng nương nhẹ!”.

Cứ như vậy, vợ Phùng sinh từng bước dồn Tiểu Thanh đến chỗ chết: ban đầu, vứt hết phấn son, đốt sạch sách vở, cấm cố không cho giao tiếp với bất cứ ai kể cả chồng. Tiểu Thanh muốn như vợ chồng Ngâu mỗi năm gặp nhau một lần cũng không xong. Tiếp theo, sự có mặt hay tránh mặt của Tiểu Thanh đều không nơi. Rồi, tống nàng ra ngôi nhà riêng dưới chân núi Cô Sơn bắt ở một mình với ba điều pháp quy cấm ngặt không cho giao thiệp với đời. Như vậy khác nào chặt hết đường sống của nàng? Đến đỗi, nơi Cô Sơn “tuy cảnh núi sông tươi đẹp, (Tiểu Thanh) cũng không dám hé cửa sổ ngắm nhìn”. Nỗi cô đơn uất hận khiến Tiểu Thanh thành bệnh mà qua đời. Một chi tiết trong Tiểu Thanh truyện cũng như trong Mai tự hận tích đều có nhưng dường như ít được chú ý là, khi Phùng sinh mở màn nhìn Tiểu Thanh lúc biết tin nàng đã qua đời. Mặc lãng tử viết: “Chiều xuống, Phùng sinh lật đật chạy tới, mở màn ra nhìn, thấy Tiểu Thanh dung quang tươi đẹp, áo quần sạch tươm như thuở sinh thời chưa bị ốm, nhưng chẳng còn nói cười nữa, không nén nổi tiếng kêu bi ai, giẫy chân, hộc máu ra đến hơn một đấu”. Khi bị chết oan, gặp thân nhân như chồng con, bố mẹ…, người chết thường nấc lên rên, hộc máu ra rồi mới chết hẳn. Đáng tiếc rằng, các dịch giả Tiểu Thanh truyện lại cho đấy là hành vi của Phùng sinh, nên dịch: “người chồng bỗng dẫm chân gào lên một tiếng dài rồi thổ ra hơn một thăng huyết”(20), hoặc “Chập tối chồng hay tin chạy lại, vén màn thấy dung nhan như sống, xiêm áo tinh tươm, đau đớn khóc to, thổ huyết một thăng. Sau đó lục lọi tìm được…”(21). Nếu anh chồng đã “thổ ra đến hơn một thăng huyết” sao còn sức để “lục tìm hồi lâu, thấy được một quyển thơ…”, rồi lại “đau đớn gào lên: Ta phụ nàng! Ta phụ nàng!”? Đấy chính là cách biểu hiện cái “kì oan”, cái “hận sự” của Phùng Tiểu Thanh.

Ở đây nên hiểu “phong vận kì oan” như thế nào cho thỏa đáng? “Phong vận” có hai nghĩa. Thứ nhất: người con gái có tư thái tốt đẹp; thứ hai: “chỉ phong cách tình thú của thơ văn, thư, họa”(22). Vậy là, không chỉ Tiểu Thanh, mà cả thơ văn, thậm chí cả bức vẽ Tiểu Thanh cũng mắc “kì oan”. Số phận Tiểu Thanh diễn ra đúng như vậy: chết trong uất hận, thơ từ và bức vẽ đều bị đốt…

Vì kì oan nên hận mà chết. Nỗi hận kia đâu chỉ xẩy ra với riêng Tiểu Thanh, mà xẩy ra đối với mọi kiếp người trên thế gian này và đi suốt thời gian kim cổ. Đấy là quy luật cuộc đời mà Nguyễn Du rút ra. Sau này, khi đã nhiều tuổi hơn, ông khái quát xã hội mình đang tồn tại bằng những câu thơ chua xót:

Hậu thế nhân nhân giai Thượng quan,
Đại địa xứ xứ giai Mịch La,
Ngư long bất thực sài hổ thực...
(Đời sau ai ai (tính cách) cũng đều như Thượng quan,
Mặt đất đâu đâu cũng chỉ là sông Mịch La,
Không bị ngư long ăn thịt, thì bị hùm sói ăn thịt...)

Thượng quan là Ngận Thượng, một tên quan luôn đố kị hiền tài, đã gièm pha Sở Hoài vương ruồng bỏ Khuất Nguyên, khiến Khuất Nguyên phải đâm đầu xuống sông Mịch La tự tử. Sông Mịch La nơi Khuất Nguyên tự tử, tượng trưng cho cõi chết. Con người toàn là kẻ nham hiểm đẩy hiền tài đến cái chết, mặt đất đều là nơi tử địa.

“Cư” trong cụm từ “ngã tự cư”, nên hiểu là “xử” như các cụ Bùi Kỉ, Trương Chính... đã dịch. Ta tự coi nỗi kì oan của nàng, của thơ văn do nàng viết, của bức chân dung nàng do họa sư vẽ… là chính nỗi kì oan của ta, như chính ta đang mắc nỗi kì oan đó; cũng có nghĩa là, ta hiểu thấu nỗi kì oan của nàng.

III/ Độc điếu song tiền nhất chỉ thư


1. “Nhất chỉ thư” là gì ?

Câu Độc điếu song tiền nhất chỉ thư được dịch như sau:

- Trước song một mình viếng một tập giấy (bản Bùi kỉ 1959, tr.69).
- Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ (bản Lê Thước 1965, tr.162, Đào Duy Anh 1988, tr.173).
- Riêng ta viếng khóc tập sách trước cửa sổ (Trần Danh Đạt, Sđd, tr.43).
- Một mình nhớ tới nàng qua một tờ giấy chép truyện (Trần Đình Sử, tr.222).
- Trước song cửa sổ ta một mình ngồi viết bài thơ này để điếu nàng trên một tờ giấy (Nguyễn Quảng Tuân, Sđd, tr.45).

Ở đây có ba cách hiểu: Một là viếng tập giấy, viếng khóc tập sách, nghĩa là viếng tác phẩm viết về Tiểu Thanh; hai là viếng qua một tập sách, một tờ giấy chép truyện, nghĩa là viếng qua tác phẩm viết về Tiểu Thanh; ba là viết bài thơ này để điếu nàng, nghĩa là, điếu bằng bài Độc Tiểu Thanh kí. Và như vậy, “nhất chỉ thư” được hiểu theo hai nghĩa: truyện về Tiểu Thanh và bài Độc Tiểu Thanh kí.

Chúng tôi nghiêng về cách hiểu của ông Nguyễn Quảng Tuân.

“Điếu” là động từ giữ chức năng vị ngữ trong câu. Là động từ, “điếu” vừa có bổ ngữ trực tiếp (điếu ai), vừa có bổ ngữ gián tiếp (điếu bằng cái gì). Rõ ràng, không thể điếu tập truyện như ông Trần Danh Đạt đã dịch. Do đó, chỉ còn điếu qua tập truyện Tiểu Thanh và điếu qua bài thơ khóc Tiểu Thanh. Muốn chọn phương án nào trong hai cách hiểu trên, theo chúng tôi, cần hiểu “nhất chỉ thư” là gì.

Thực ra, “nhất chỉ thư” không chỉ là một tờ giấy có chữ viết, mà là, tờ giấy có chữ do chính tay mình viết. Nếu vậy, không thể hiểu đấy là tác phẩm về Tiểu Thanh. Một điều nữa chúng tôi hết sức băn khoăn rằng, chẳng biết Nguyễn Du có dùng điển tích “nhất chỉ thư” hay ngẫu nhiên trùng với điển tích đó. Xin nêu ra để bạn đọc tham khảo. “Nhất chỉ thư” là một điển về Lưu Hoằng (236-306), rút từ Tấn thư, dùng để chỉ sự tâm huyết, công minh của người tự tay viết “nhất chỉ thư” dâng lên bề trên. Người dân bấy giờ có câu: “được “nhất chỉ thư” của Lưu công, hơn được tiến cử làm quan trong thập bộ”. Nguyễn Du đã ví bài Độc Tiểu Thanh kí của mình như biểu dâng lên Tấn Huệ đế của Lưu Hoằng(23)? Nếu đúng như vậy, qua điển “nhất chỉ thư”, Nguyễn Du muốn bày tỏ rằng, ông thấu hiểu nỗi lòng Tiểu Thanh và ông cũng chẳng giấu điều đó: “ngã tự cư”!

2. “Song tiền”.

Về chữ, “song tiền” là trước cửa sổ. Nhưng, cửa sổ nào? Cửa sổ nhà Tiểu Thanh ở Cô Sơn Hàng Châu hay cửa sổ nhà Nguyễn Du tại Việt Nam?

Như trên kia đã trình bày, Nguyễn Du viết Độc Tiểu Thanh kí khi chưa đi sứ, do đó ông không thể đến trước cửa sổ nhà Tiểu Thanh đọc bài thơ của mình được. Song, nếu Nguyễn Du điếu Tiểu Thanh ở trước cửa sổ nhà mình thì nghe ra lại khiên cưỡng.

Xin hãy trở lại Di tích về nỗi hận ở gò mai. Trong văn bản có hai chi tiết đáng chú ý: Một là, khi Tiểu Thanh còn sống, tác giả kể: “tuy cảnh núi sông (ở Cô Sơn) tươi đẹp, (Tiểu Thanh) cũng không dám hé cửa sổ ngắm nhìn”; hai là, sau khi Tiểu Thanh qua đời, Lưu Vô Mộng – bạn của Phùng sinh “qua gò mai, trong cửa sổ thêu, nơi Tiểu Thanh nằm, tìm thấy một mảnh giấy tàn có ba câu của bài từ, điệu Nam hương tử…”. Như vậy, trong cửa sổ là thế giới của Tiểu Thanh – nơi nàng ở và qua đời, còn ngoài cửa sổ - song tiền thế giới của nhân gian, của Lưu Vô Mộng, của Nguyễn Du, của chúng ta… Nguyễn Du điếu nàng bằng “nhất chỉ thư” tại song tiền – thế giới những người đang sống. Đấy là nghĩa thứ nhất. Thứ hai, chẳng rõ có phải ngẫu nhiên không, nhưng về Tiểu Thanh có truyện của Tiên Tiên cư sĩ trong Lục song nữ sử, tác phẩm ra đời vào thời Minh. “Lục song” là cửa sổ xanh, nơi ở của con gái, sau dùng để chỉ chỗ đàn bà sinh sống. Vả chăng, thơ ca luôn mang tính ước lệ.

IV/ Chi phấn hữu thần…, Văn chương vô mệnh…

Hai câu này không phức tạp lắm.

1. “Chi phấn” - đồ trang sức của phụ nữ, sau dùng để chỉ giới nữ lưu nói chung. “Thần” là thần thái, thần sắc, ở đây chỉ nhan sắc, tài hoa và trí tuệ của Tiểu Thanh. Trong tác phẩm của mình, Mặc lãng tử luôn nhấn mạnh đến thần thái Tiểu Thanh tươi đẹp. Khi mới 10 tuổi, nàng đã mục tú mi thanh, thông tuệ khác thường. Năm nàng 16 tuổi, Phùng sinh mới gặp đã siêu lòng. Về tới nhà chồng, mặc dù nàng đã “cúi đầu hạ dọng cung kính không dám lộ vẻ phong lưu, vậy mà, phong thái kiều diễm của Tiểu Thanh càng giấu lại càng rực rỡ”. Trước mặt vợ Phùng sinh, Dương phu nhân vẫn thẳng thắn nhận xét Tiểu Thanh là “một cô gái tốt! Mi thanh mục tú, ôn hòa nhã nhặn khác thường, chẳng sánh bậc tao nhân mặc khách, thì cũng là người ở chốn kim mã ngọc đường”. Lúc Tiểu Thanh qua đời, Mặc lãng tử từng thốt lên: “Người đẹp như ngọc mà mệnh mỏng như mây; nhị quỳnh, ưu đàm nhân gian có một”. Đặc biệt, bức vẽ thứ ba, Mặc lãng tử nhận xét: “cực kì phong nhã”. Tác giả Dương Châu mĩ nữ còn miêu tả bức vẽ thứ ba hấp dẫn hơn nhiều: “hoạ s¬ư đề nghị Phùng Tiểu Thanh không cần ngồi nghiêm nghị mà cứ nói cư¬ời, đi lại, nằm ngồi bình thư¬ờng, còn tình cảm buồn vui oán giận thì cứ để chúng tùy theo cảm hứng tự nhiên, hà tất phải cố ý tạo dựng. Tiểu Thanh lĩnh hội ý của hoạ sư¬, bèn không ngồi cứng nhắc như¬ tr¬ước mà cứ hoạt động bình thường. Lúc thì nàng cùng bà hầu chuyện trò cư¬ời nói, lúc lại quạt lò pha trà, lúc đùa chơi với chim anh vũ, hoặc quay sang đọc thơ xem sách, hoặc đi lại dư¬ới gốc mai... Qua từng cử chỉ, từng cái nhăn mày đến điệu cư¬ời tiếng nói của Tiểu Thanh… họa sư¬ đã nắm bắt đư¬ợc thần thái, cốt cách của nàng. Quan sát như¬ vậy mất ba ngày, sau đó lại mất một ngày pha mầu rồi mới vẽ. Trong bức vẽ này, Tiểu Thanh dựa cây mai một cách tự nhiên, sống động như¬ thật, dư¬ờng như¬ có thể gọi nàng bư¬ớc ra khỏi tranh”. Cái sắc thái sinh động có thần của Tiểu Thanh đã đi vào bức họa, biến bức họa vốn vô tri vô giác thành con người sống thực làm liên can đến việc sau khi nàng qua đời: bức họa bị đốt! Nếu Tiểu Thanh không có cốt cách, không có tâm hồn, không có thần thì sau khi nàng đã qua đời, không thể khiến cho bức vẽ về nàng bị đốt. Văn chương nào phải đâu là sinh mệnh sống, mà bị lụy khiến chúng thành tro?

2. Phần dư

“Phần dư” là phần (thơ, từ) còn lại không bị đốt, chứ không phải “tập thơ bị đốt còn sót lại” hoặc “đốt dở,… phần đốt còn sót lại”. Giải thích như vậy dễ làm người đọc hiểu nhầm. Tuy nhiên, điều đáng nói là, chỉ truyện về Tiểu Thanh trong Ngu Sơ tân chí, trong Tình sử và trong Dương châu mĩ nữ mới nói tới Phần dư hoặc Phần dư cảo còn trong Tây Hồ giai thoại, Lục song nữ sử không có chi tiết này.

Sẽ giải thích như thế nào về hiện tượng trên khi cho rằng, Nguyễn Du dựa trên Tây Hồ giai thoại, Lục song nữ sử để viết Độc Tiểu Thanh kí? Vậy, có cái gọi là Tiểu Thanh kí không?

V/ Nhan đề bài thơ

Từ đầu đến giờ, chúng tôi luôn chứng minh rằng, viết Độc Tiểu Thanh kí Nguyễn Du dựa trên cơ sở đọc Tây Hồ giai thoại, Lục song nữ sử… Nhưng kết luận như vậy sẽ không lí giải được câu “lụy Phần dư” vì Phần dư chỉ có trong Tiểu Thanh truyện. Để xử lí hiện tượng này, ta hãy xem chữ “kí” có những nghĩa gì?

“Kí” có ít nhất ba nghĩa. Một là tương đương với khái niệm “truyện”, như Bích Câu kì ngộ kí; hai là, thể kí văn học như Công dư tiệp kí; ba là, ghi chép. Bây giờ ta dùng phép loại trừ để xem Nguyễn Du dùng nghĩa nào.

Thứ nhất, trong Ngu Sơ tân chí và Tình sử đã có Tiểu Thanh truyện. Bởi vậy, Nguyễn Du không thể thay khái niệm truyện bằng kí được. Thứ hai, nếu Nguyễn Du dùng kí với ý nghĩa là thể kí văn học, thì trong thư tịch Trung Hoa ắt phải có tác phẩm kí viết về Tiểu Thanh. Song chúng tôi đã tra tìm tất cả các danh mục tác phẩm viết về Tiểu Thanh nhưng chẳng có văn bản nào đề là Tiểu Thanh kí cả. Vậy chỉ còn một nghĩa thứ ba: ghi chép. Qua những tư liệu chúng tôi đã trình bày trên kia, chiếu ứng vào nội dung bài Độc Tiểu Thanh kí, ta thấy Nguyễn Du đã đọc một số văn bản viết về Tiểu Thanh như Tây Hồ giai thoại, Lục song nữ sử, Ngu Sơ tân chí, Tình sử… Điều đó cũng có nghĩa, kí là ghi chép, Nguyễn Du ghi lại cảm xúc khi đọc một số tài liệu, chủ yếu là Tây Hồ giai thoại để viết Độc Tiểu Thanh kí. Do đó, Độc Tiểu Thanh kí là đọc những ghi chép về Tiểu Thanh.

Truy tìm tư liệu về Tiểu Thanh là một trong những hướng đi có triển vọng để tiếp cận bài Độc Tiểu Thanh kí. Công việc ấy cần sự đóng góp của nhiều người, còn chúng tôi chỉ nối bước những nhà nghiên cứu đi trước như Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Quảng Tuân…

Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói là, nhân vật Phùng Tiểu Thanh liên quan đến Kim Vân Kiều truyện. Mở đầu hồi một của Kim Vân Kiều truyện, trong Lời bình, tác giả không dư¬ới 7 lần nhắc tới Phùng Tiểu Thanh và nhấn mạnh rằng, chính cuộc đời đáng thư¬ơng, đáng xót của nàng đã cảm động đến các tao nhân mặc khách…, khiến họ phải vì nàng mà thở than, mà thư¬ơng xót...; vì nàng mà “khắc in văn tập, viết truyện truyền kì lư¬u truyền bất hủ”(24). Cuộc đời Phùng Tiểu Thanh đã bi thảm, số phận Vư¬ơng Thuý Kiều còn bi thảm hơn. Tác giả Lời bình nhận xét, Vư¬ơng Thuý Kiều “tài sắc chẳng kém Tiểu Thanh mà bị đoạ đầy còn hơn Tiểu Thanh, đủ để ngàn năm sánh cùng Tiểu Thanh vậy”(25). Nguyễn Du dựa vào Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân để sáng tác Đoạn trư¬ờng tân thanh. Do đó khi viết Đoạn trư¬ờng tân thanh, Nguyễn Du hẳn là phải biết tới đoạn văn chúng tôi vừa trích và khi đã biết, chắc Nguyễn Du chẳng thể bỏ qua câu chuyện về cô gái có tên là Phùng Tiểu Thanh. Cho nên, nghiên cứu về Tiểu Thanh không chỉ giúp ta hiểu bài Độc Tiểu Thanh kí, mà còn giúp ta biết chính xác hơn thời điểm ra đời Đoạn trư¬ờng tân thanh. Tuy nhiên, trong bài viết này, chủ yếu trên cơ sở cung cấp một số tư¬ liệu mới về Tiểu Thanh, chúng tôi muốn đư¬a ra những hướng kiến giải bài Độc Tiểu Thanh kí. Về thời điểm sáng tác Đoạn trư¬ờng tân thanh cũng như khuynh hướng sáng tác Đoạn tr¬ường tân thanh của Nguyễn Du xin trình bày trong dịp khác./.

__________________
(1) Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Bùi Kỉ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh dịch), Nxb Văn hóa, H, 1959, tr. 69.
(2) Văn 10, Nxb. Giáo dục, H, 1990.
(3 Trần Danh Đạt: Góp phần tìm hiểu thêm về nội dung bài “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1993.
(4) Nguyễn Đình Chú:
- Về lời dịch “Độc Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du), báo Văn nghệ, số 24 ngày 12/6/1993;
- Lại bàn về hoàn cảnh sáng tác “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du, Văn nghệ, số 23 ngày 4/6/1994.
(5) Trần Đình Sử: Mấy điều suy nghĩ về bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du, Văn nghệ, số 28, ngày 10/7/1993.
(6) Trương Chính: Lời giới thiệu, sách Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb. Văn học, H,1965, tr.14.
(7), (8) Nguyễn Quảng Tuân: Cần phải tìm hiểu chính xác hơn bài “Độc Tiểu Thanh kí”của Nguyễn Du, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1994.
(9) Trần Đình Sử: “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du, sách Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb. Giáo dục, H, 1995.
(10), (11) Nguyễn Khắc Phi: Tiểu Thanh truyện (giới thiệu và dịch), Tạp chí Văn học nước ngoài, số 5/1997.
(12) Từ hải. Trung Hoa Thư cục xuất bản xã, súc ấn bản 1936; trùng ấn lần thứ nhất 1981, bản in lần thứ năm 1994, quyển Thượng, tr.974, mục Tiểu Thanh.
(13) Từ hải. Thượng Hải Từ thư xb xã, Thượng Hải, 1979, tr.362. Tái bản năm 1989 (tr.412), nội dung vẫn giữ nguyên.
(14) Phan Quang Đán: Phân tích Tiểu Thanh, Tân nguyệt Thư xã, 1927.
(15) Nam Tề: tên triều đại của Trung Hoa những năm 480-502.
(16) Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh dịch). Sđd, tr.161 và Đào Duy Anh: Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb. Văn học, H, 1978, tr.172.
(17) Trần Đình Sử: Mấy điều suy nghĩ về bài thơ” Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du, Sđd.
(18) Nguyễn Đình Chú: Lại bàn về…, Bđd.
(19) Ngu Sơ: Ngu Sơ người Hà Nam thời Tây Hán, từng viết Chu sử thông tục 943 thiên, gọi là Chu thuyết. Trong Hán thư, Ban Cố xếp Ngu Sơ vào hàng tiểu thuyết gia. Do đó, người đời sau thường lấy 2 chữ Ngu Sơ tên tác giả Chu thuyết để gọi thay cho loại bút kí tiểu thuyết. Bởi vậy, chữ Sơ phải viết hoa. Tiếc rằng, một số nhà nghiên cứu không biết điều này để viết hoa chữ Sơ.
(20) Tiểu Thanh truyện, Sđd.
(21) “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du, Sđd.
(22) Hán ngữ đại từ điển, Tập 12, Hán ngữ đại từ điển xã xb, Thượng Hải, 1993.
(23) Điển Lưu Hoằng cử người hiền tài, tránh đề cử người thân thích như sau: “Thời Tấn Huệ đế (291-306), Lưu Hoằng làm Thứ sử Kinh Châu, thấy thiếu các chức quan nắm mười bộ ở Kinh Châu, xin nhà vua bổ dụng. Triều đình bổ Hạ Hầu Trắc - con rể của Hoằng làm Thái thú Tương Dương. Hoằng dậy Trắc rằng: Kẻ nắm đại thống thiên hạ, phải một lòng với thiên hạ; kẻ đứng đầu một nước, phải lấy cả nước làm trách nhiệm của mình. Nếu bổ dụng con rể, thì Kinh Châu lấy đâu cho đủ 10 con rể?”. Bèn dâng biểu lên vua rằng: “Trắc là người thân, theo chế độ trước, (bố vợ) không được bổ nhiệm (con rể)”. Bèn cử Bì Sơ làm Thái thú Tương Dương. Vua hạ chiếu theo đề nghị của Hoằng. Tấn thư quyển 66.
(24), (25) Kim Vân Kiều truyện, Tú Hoa Hiên tàng bản, tờ 2a.

( Theo PGS.TS Nguyễn Đăng Na
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. )
Đọc tiếp >>